CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Bệnh viêm mũi xoang được nghiên cứu từ thời Hippocrate (460 – 377 trước công nguyên), đến thế kỷ XIII Saligno đã miêu tả bệnh học của xoang hàm. Năm 1981, Potter đã nghiên cứu và đưa ra giải phẫu học và bệnh học viêm mũi xoang [4].
Wald và cộng sự đã nghiên cứu 30 trẻ viêm xoang hàm cấp nhận thấy triệu chứng ho, chảy mũi và hơi thở hôi là phổ biến nhất. Vi khuẩn thường gặp ở những trẻ này là: S. Năm 1989, Tinkelman đã nuôi cấy vi khuẩn dương tính ở 25 trên 35 trẻ em viêm mũi xoang mạn tính, kết quả cho thấy các vi khuẩn phổ biến nhất được phân lập là H. pneumoniae và Moracella catarrhalis [6].
Năm 1996, Parson: Nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của viêm mũi xoang và cho rằng ba tác nhân quan trọng nhất gây viêm mũi xoang trẻ em là: dị ứng, tác nhân môi trường và trào ngược dạ dày thực quản [7]. Năm 2005, Hassan H Ramada nghiên cứu vi khuẩn nguyên nhân gây ra viêm xoang [8]: + Streptococcus pneumoniae: 20 – 30 % + Haemophilus influenzae: 15 – 20 % + Moraxella catarrhalis: 15 – 20 % 1. Ở Việt Nam Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về viêm mũi xoang trẻ em như: Trần Hữu Tước (1974), Võ Tấn (1974), Lương Sỹ Cần (1991), Nguyễn Hoàng Sơn (1992)…. 4 Lê Công Định nghiên cứu 31 trường hợp trẻ em tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương (1987 - 1993): Lấy mủ trong xoang hàm nuôi cấy, phân lập, tỷ lệ dương tính là 48.38%, Streptococcus pneumoniae gặp nhiều nhất (37.
Phạm Tuấn Cảnh nghiên cứu 79 trường hợp viêm xoang hàm mãn tính ở người lớn tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương (1995) có tỷ lệ nuôi cấy dương tính là 39.influenzae gặp nhiều nhất (25%) rồi tới M. Nhan Trừng Sơn nghiên cứu 123 trường hợp viêm xoang mãn tính trẻ em ở bệnh viện Nhi đồng I (1996 - 1997) có tỷ lệ phân lập vi khuẩn là 66,66%, nhiều nhất là H.influenzae (35,36%) rồi tới S. Nguyễn Thị Bích Hường (2011) nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và vi khuẩn trong viêm xoang trẻ em: các dấu hiệu lâm sàng hay gặp là chảy mũi (48/48), ngạt mũi (48/48), đau đầu (31/48), ngửi kém (15/48), vi khuẩn hay gặp nhất là: S. aureus , Klebsiela pneumoniae, Pseudomonas aeruginosa [12].
GIẢI PHẪU MŨI XOANG 1. Hốc mũi Là một khoang rỗng của khối xương mặt bao gồm bốn thành: thành ngoài, thành trên, thành dưới và thành trong. Trong đó liên quan nhiều nhất đến nội soi mũi xoang là thành trên và thành ngoài. Thành trên Gồm mảnh sàng ở phía trong và phần ngang xương trán ở phía ngoài, tạo thành trần các xoang sàng.
Chỗ tiếp nối giữa 2 thành phần trên là chân bám vào thành trên hốc mũi của rễ đứng xương cuốn giữa theo chiều dọc trước sau [13]. Thành ngoài Thành ngoài là vách mũi xoang, có khối bên xương sàng gồm nhiều nhóm xoang sàng. Mặt ngoài khối sàng là một phần của thành ngoài hốc mắt, đây là vùng rất nhạy cảm trong phẫu thuật nội soi vì rất dễ bị tổn thương. Các cuốn mũi Thông thường có 3 cuốn mũi đi từ dưới lên trên gồm: cuốn dưới, cuốn giữa, cuốn trên.
Cấu tạo của cuốn gồm có xương ở giữa và bên ngoài được bao phủ bởi niêm mạc đường hô hấp. Cuốn mũi giữa là một phần xương sàng, phía trước gắn với mái trán-sàng qua rễ đứng theo bình diện đứng dọc, rễ này ra phía sau xoay ngang dần theo bình diện đứng ngang rồi nằm ngang bám vào khối bên xương sàng gọi là mảnh nền cuốn giữa [14]. Bình thường cuốn giữa có chiều cong lồi vào phía trong hốc mũi, trường hợp ngược lại, cuốn giữa cong ra phía ngoài sẽ chèn ép làm hẹp đường dẫn lưu của PHLN, gọi là cuốn giữa đảo chiều, đây là một trạng thái giải phẫu tạo điều kiện thuận lợi dẫn đến viêm xoang. Phần nền xương chẩm 2.
Tiền đình mũi xương khẩu cái 23. Hạnh nhân hầu 6 3. Ngách mũi trên 11. Ngách mũi dưới 17.
Ngách hầu 24. Tuyến yên trong hố yên 5. Đê mũi xương hàm trên (Eustachi) 26. Lỗ xoang bướm 6.
Tiền đình ngách mũi giữa 13. Ống răng cửa 19. Ngách bướm sàng 7. Mạc hầu - nền Hình 1.1: Sơ đồ giải phẫu thành ngoài hốc mũi 1.
Các ngách mũi - Ngách mũi dưới: Lỗ lệ nằm ở phía trước-trên, phần tư sau trên là mỏm hàm của xương cuốn dưới tiếp nối với xương khẩu cái, đây là vùng mỏng nhất của vách mũi xoang để chọc vào xoang hàm. - Ngách mũi giữa: Có 4 cấu trúc giải phẫu rất quan trọng đó là mỏm móc, bóng sàng, khe bán nguyệt và phức hợp lỗ ngách. + Mỏm móc: Là một xương nhỏ hình liềm, nằm ở thành ngoài hốc mũi có chiều cong ngược ra sau. Mỏm móc che khuất lỗ thông xoang hàm ở phía sau.
Mỏm móc có thể có các dạng giải phẫu đặc biệt: quá phát hoặc đảo chiều,gây chèn ép làm hẹp đường dẫn lưu của các xoang ở vùng khe bán nguyệt [13]. + Bóng sàng: Là một tế bào sàng trung gian, thành trước bám ngang vào mái trán-sàng, đi vòng xuống dưới và ra sau để tiếp nối với mảnh nền cuốn giữa. Bóng sàng quá phát sẽ gây bít lấp phức hợp lỗ ngách làm cản trở đường dẫn lưu tự nhiên của xoang. + Khe bán nguyệt: Là một khe lõm nằm giữa mỏm móc và bóng sàng có hình trăng lưỡi liềm cong ra sau, từ khe giữa đi qua rãnh bán nguyệt sẽ vào một rãnh hình máng chạy dọc từ trên xuống.
Phần trên rãnh này nằm phía trước dưới rãnh bán nguyệt. Rãnh này có hình phễu nên được gọi là phễu sàng. Rãnh bán nguyệt có thể coi như cửa vào phễu sàng. Trong khe này có các lỗ dẫn lưu của hệ thống xoang sàng trước, xoang trán và xoang hàm + Phức hợp lỗ ngách: 7 Hình 1.2: Phức hợp lỗ ngách Là phần trước của ngách mũi giữa, giới hạn bởi các xoang sàng trước, cuốn giữa và mỏm móc, gồm chủ yếu là ngách trán-sàng và khe bán nguyệt, có lỗ thông của các xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước.
Đây có thể coi là vùng ngã tư dẫn lưu của các xoang vào hốc mũi. Bất kỳ một cản trở nào ở vùng này đều có thể gây tắc nghẽn sự dẫn lưu các xoang và dẫn đến viêm xoang. Đây là vùng giải phẫu đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh viêm xoang. - Ngách mũi trên: Có lỗ thông của các xoang sau, dẫn lưu xuống cửa mũi sau.
Giải phẫu các xoang Các xoang được chia thành hai nhóm: Nhóm xoang trước và nhóm xoang sau. Nhóm xoang trước bao gồm xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước. Nhóm xoang sau bao gồm xoang sàng sau, xoang bướm. Thần kinh thi giác (II) 2.
Thành trong ỏ mắt 3. Mỡ và các cơ của ổ mắt 8. Xoang hàm Xoang hàm là một hốc chiếm gần hết bề dày mỏm tháp xương hàm trên, giống hình tháp ba mặt, một đáy, một đỉnh. - Các mặt của xoang hàm: + Mặt trên: liên quan với sàn ổ mắt rất mỏng và dễ vỡ.
Có ống xương cho thần kinh và mạch máu chạy qua, có khoảng 14% ống này không kín để lộ thần kinh dưới ổ mắt ngay dưới lớp niêm mạc xoang, khi viêm xoang rất dễ bị tổn thương gây nhức ở mặt trước xoang hàm. + Mặt sau: dày, ngăn cách xoang với hố chân bướm hàm, thần kinh răng sau đi trong mặt này + Mặt trước ngoài: là mặt phẫu thuật, có lỗ thần kinh dưới ổ mắt. 9 - Đáy xoang hàm: Đáy xoang hàm tương ứng với mặt ngoài của hốc mũi, đáy xoang được chia làm hai phần : + Phần dưới: mỏng, được cấu tạo bởi mỏm hàm của xương cuốn dưới và mỏm hàm xương khẩu cái khớp lại với nhau.4: Thiết đồ cắt đứng dọc qua xoang hàm + Phần trên: có lỗ thông với xoang hàm, vùng tương ứng với vùng khuyết xương nằm giữa chân bám của xương cuốn dưới và mỏm móc chỉ có niêm mạc che phủ. Phần trên có ống lệ tỵ đi từ trên xuống.
- Đỉnh của xoang: thường kéo dài ra đến tận củ gò má xương hàm. - Lỗ thông xoang hàm: Lỗ xoang hàm trên thực tế là một ống nhỏ, rộng khoảng 2,5mm, có thể coi là một phần cấu trúc của hệ thống mê đạo sàng. ống này có cấu tạo phía trên là thành dưới bọt sàng, phía dưới là phần hàm của mỏm móc. Ở tư thế bình thường để đầu thẳng thì lỗ này nằm ở 1/4 sau trên tức là ở góc sau của xoang.
Do vậy cơ chế dẫn lưu của xoang hàm hoàn toàn không phải chỉ đơn thuần là dẫn lưu cơ học qua chỗ thấp nhất.ống này đổ vào hốc mũi qua vùng phức hợp lỗ ngách, đây là ngã tư thông thương giữa 10 xoang trán, xoang hàm và xoang sàng trước vào hốc mũi. Lỗ thông xoang có ý nghĩa rất quan trọng trong bệnh học viêm xoang. Nếu nó bị tắc nghẽn sẽ cản trở sự dẫn lưu của xoang, dẫn tới rối loạn hoạt động của hệ thống lông nhầy gây viêm xoang.Ngoài lỗ thông tự nhiên của xoang hàm, ở một số tường hợp còn tồn tại lỗ thông xoang hàm phụ ngay gần lỗ thông xoang hàm chính nhưng kích thước nhỏ hơn. Xoang sàng - Xoang sàng có cấu tạo khá phức tạp nên còn được gọi là mê đạo sàng.
Nó là một phức hợp có từ 5 - 15 hốc xương nhỏ, gọi là các tế bào sàng, nằm trong mỗi khối bên xương sàng. Khối bên có hình hộp chữ nhật, gắn vào mảnh ngang xương sàng ở phía trên. Mỗi tế bào sàng có lỗ dẫn lưu riêng đường kính khoảng 1-2mm [15]. Các xoang sàng nằm trong một hành lang bằng xương hẹp, ngăn cách với hốc mắt bằng một vách xương rất mỏng (xương giấy), dễ bị tổn thương trong phẫu thuật.
- Phân chia xoang sàng: Theo Mouret phân chia căn cứ vào lỗ đổ của xoang sàng vào khe giữa hay khe trên và vị trí của các lỗ này so với chân bám của xương cuốn giữa. * Nhóm sàng trước: Nằm ở phía dưới và phía trước của khe giữa, dẫn lưu vào ngách giữa vùng phễu sàng, liên quan với lỗ thông xoang hàm. Phía trước có một tế bào rất to, tạo thành một ụ nằm ngang tầm với cuốn giữa ngay trước đầu cuốn, dưới ngách trán gọi là tế bào đê mũi , đây là mốc để vào xoang sàng trước. Phía trong và dưới ổ mắt có một tế bào lớn khác gọi là tế bào Haller, đây là một mốc cần chú ý để tránh làm tổn thương vào hốc mắt.