Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Giải phẫu học khớp cổ chân Khớp cổ chân được cấu tạo rất phức tạp gồm 3 xương: đầu xa xương chày, đầu xa xương mác và xương sên cùng với hệ thống dây chằng: Dây chằng bên ngoài, dây chằng bên trong, dây chằng chày mác dưới, mạch máu thần kinh và các gân cơ đi ngang qua vùng cổ chân [13], [24], [69]. Khớp cổ chân là khớp liên kết giữa đầu dưới hai xương cẳng chân với xương gót và xương sên. Cấu tạo xương 1. Đầu dưới xương chày Xương chày là xương chịu lực vùng cổ chân, đầu dưới nhỏ hơn đầu trên.
Có hình khối vuông 5 mặt, cần chú ý mặt sau: - Mặt dưới: tiếp khớp với diện ròng rọc xương sên, có gờ phía trước và phía sau để không cho xương sên ra trước và ra sau. Gờ sau xuống thấp hơn hay còn gọi là mắt cá sau (MCS), mắt cá thứ ba của Destot. - Mặt trong: có phần xuống thấp hơn mặt dưới gọi là mắt cá trong, mặt ngoài mắt cá trong (MCT) tiếp khớp với mặt trong xương sên, có rãnh sau mắt cá trong để cho gân cơ chày sau, cơ gấp chung các ngón chạy qua. - Mặt ngoài: có khuyết mác, khớp với đầu dưới xương mác.
Phần dưới xương mác Xương mác nằm phía ngoài cẳng chân, ở 1/3 dưới trên mỏm mắt cá ngoài (MCN) từ 6 - 8 cm xương mác xoắn từ sau vào trong, đây là điểm yếu dễ bị gãy. Đầu dưới xương mác hình tam giác, xuống thấp hơn MCT 1 cm. 4 Mặt trong: phía trên khớp với khuyết mác đầu dưới xương chày tạo nên khớp sợi chày mác. Phía dưới tiếp khớp với mặt ngoài ròng rọc xương sên.
Phía sau có rãnh cho cơ mác dài và mác ngắn chạy qua. Trước Trần chày Xương mác Màng gian cốt Ròng Sau rọc Thân Xương chày Xương mác Cổ Chỏm Xương sên Hình 1. Cấu tạo xương khớp cổ chân (Nguồn: theo Egol K. Xương sên Xương sên có hình con sên gồm 3 phần: chỏm sên, cổ sên và thân sên.
Được xem như một hình hộp sáu mặt. Phía trên là xương chày, phía dưới là xương gót, hai mặt bên khớp với hai mắt cá tương ứng [13], [28]. Mặt trên và hai mặt bên: khớp với đầu dưới xương chày và xương mác tạo nên một ròng rọc sên có 3 diện khớp: diện khớp trên, diện khớp mắt cá ngoài và diện khớp mắt cá trong. Mặt dưới: có 3 diện khớp, khớp với xương gót: trước, giữa và sau.
Mặt trước: chỏm trên có diện khớp ghe, hình tròn dài khớp với xương ghe. 5 Mặt sau: hẹp, có mỏm sau xương sên. Phía trước mặt trên xương sên rộng hơn phía sau, nên khi gấp cổ chân về phía mu tối đa thì MCN di chuyển ra ngoài khoảng 2 mm. Phương tiện nối khớp Gồm bao khớp và hệ thống dây chằng.
Bao khớp Bám vào chu vi các diện khớp, ở phía trước mỏng, hai bên dày lên thành các dây chằng. Hệ thống dây chằng Các dây chằng bên trong còn gọi là dây chằng Delta, xếp thành 2 lớp, tăng cường sự vững chắc bên trong [13], [26], [41]. Lớp nông: rộng, hình quạt, từ MCT xuống dưới tới xương sên, xương gót và xương ghe. Gồm có các phần: - Phần chày sên trước.
- Phần chày ghe. Lớp sâu: bám từ phần sau trong của MCT gần như chạy ngang bám vào trục quay của xương sên, giữ xương sên không trật ra ngoài. DC DC chày sên trước chày DC chày ghe sên DC chày sên trước sau DC chày ghe DC chày gót Hình 1. Hệ thống dây chằng bên trong (Nguồn: theo Egol K.A (2015)) [28] 6 Các dây chằng bên ngoài: DC mác sên trước, sau và DC mác gót.
- Dây chằng mác sên trước: từ phần trước MCN đến phía trước ngoài của xương sên. - Dây chằng mác sên sau: từ phía sau MCN đến phía sau ngoài xương sên. - Dây chằng mác gót: từ sau dưới MCN đến phía ngoài xương gót. DC chày mác trước DC sên mác trước DC sên mác sau DC mác gót Hình 1.
Hệ thống dây chằng bên ngoài (Nguồn: theo Egol K.A (2015)) [28] Các dây chằng chày mác dưới: - Dây chằng chày mác trước: chạy từ bờ trước ngoài xương chày đến bờ trước đầu dưới xương mác. A: DC chày mác trước B: DC chày mác sau C: Màng gian cốt C B A A B A Hình 1. Hệ thống dây chằng chày mác dưới (Nguồn: theo Egol K.A (2015)) [28] 7 - Dây chằng chày mác sau và dây chằng ngang dưới: chạy từ MCS đến phía sau đầu dưới xương mác, dây chằng chày mác sau ở trên dây chằng ngang dưới. - Màng gian cốt: nối xương chày và xương mác trên suốt chiều dài của xương, phía dưới dày lên thành dây chằng gian cốt.
Liên quan vùng cổ chân 1. Động mạch Động mạch chày trước: đoạn cuối của động mạch chày trước chạy phía trước cổ chân, dưới mạc giữ gân duỗi xuống đổi tên thành động mạch mu chân. Ngoài ra phía trước có thể có ngành cuối của động mạch xiên thuộc động mạch mác. Động mạch chày sau: chạy phía sau trong cổ chân, xuống ống gót chia làm hai ngành gan chân trong và gan chân ngoài đi theo hai tầng của ống gót [2], [4].
Tĩnh mạch Tĩnh mạch hiển to: là tĩnh mạch nông chạy qua trước MCT đi chếch lên phía trong cẳng chân. Tĩnh mạch hiển bé: chạy nông, vòng sau MCN đi lên. Thần kinh Phía trước: ở nông có các ngành tận của thần kinh mác nông. Ở lớp sâu có thần kinh mác sâu.
Phía sau: ở lớp nông có các nhánh tận của thành kinh hiển, nhánh gót trong của thần kinh chày. Lớp sâu thần kinh chày tới ống gót chia làm 2 ngành: thần kinh gan chân trong và gan chân ngoài. Gân cơ vùng cổ chân Phía trước: chạy dưới mạc hãm các gân duỗi, xếp thành một hang từ trong ra ngoài có gân cơ chày trước, gân cơ duỗi dài ngón cái, gân cơ duỗi dài các ngón chân. Mỗi gân có một bao hoạt dịch riêng.
Các cơ này tham gia vào động tác gấp cổ chân về phía mu, xoay trong. 8 Phía sau: có gân gót và gân cơ gan chân xuống bám vào nửa dưới mặt sau xương gót, tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân. Phía sau ngoài: có gân cơ mác dài và mác ngắn, chạy sau MCN. Tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân, xoay ngoài và sấp.
Phía sau trong: là ống gót gồm bó mạch thần kinh chày sau và các gân cơ cẳng chân sau, cơ gấp dài các ngón chân, cơ gấp dài ngón cái. Tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân, ngửa bàn chân [2], [4], [13]. Sinh lý và chức năng khớp cổ chân Khớp cổ chân bao gồm ba mặt khớp: mặt khớp của trần xương chày với xương sên, sên - MCT, sên - MCN. Mộng chày mác bao gồm mặt dưới xương chày, hai bên là MCT và MCN liên kết với nhau bởi khớp chày mác dưới, giữ chặt xương sên ở giữa.
Xương sên truyền sức nặng của toàn thân xuống cho xương gót (điểm tỳ vững) và cho vòm bàn chân (điểm tỳ đàn hồi). Vì vậy chỉ cần biến dạng rất nhỏ của mộng chày mác (MCM) và xương sên di lệch ra ngoài cũng đủ gây đau khi đứng và đi lại. Tình trạng này kéo dài sẽ gây biến dạng, thoái hóa mặt khớp cổ chân [3], [5], [8], [28]. Động tác của khớp cổ chân: gấp duỗi bàn chân.
Trong đó: - Gấp về phía mu chân: 250. - Gấp về phía gan chân: 450. Ngoài ra khớp cổ chân còn tham gia các động tác khác như: - Xoay ngoài - xoay trong.Cơ chế chấn thương Năm 1771, Jean - Pierre David lần đầu tiên mô tả cơ chế gãy mắt cá đó là hướng lực làm xoay ngoài bàn chân. Dupuytren đã mô tả chấn thương vùng cổ chân do lực chấn thương làm dạng bàn chân gây ra những tốn thương: gãy MCT, gãy thân xương mác, tổn thương dây chằng chày mác dưới, ông cũng mô tả trật xương sên ra ngoài gây toác mộng chày mác (MCM).
Huguier (1848): đã nghiên cứu thêm hướng lực chấn thương làm xoay ngoài bàn chân gây gãy MCT hoặc đứt dây chằng Delta, gãy xương mác ở 1/3 dưới đến 1/3 trên. Sự ra đời của tia X quang và những ứng dụng trong y học đã giúp cho nhiều tác giả nghiên cứu về cách phân loại tổn thương, cơ chế chấn thương vùng cổ chân như: Ashurst - Brommer (1922), Lauge - Hansen (1948), AO (1958), Danis Weber (1966). Có nhiều cơ chế chấn thương tùy thuộc vào tư thế của bàn chân, hướng lực gây chấn thương, ứng với từng cơ chế có những hình thái tổn thương khác nhau. Những thương tổn thường gặp trong gãy mắt cá là: - Gãy MCT: nếu do dây chằng Delta căng giãn thì đường gãy ngang, nếu do xương sên đè nén trực tiếp thì đường gãy đứng dọc.
- Gãy xương mác: ở trên, dưới hoặc ngang mức dây chằng chày mác dưới, đường gãy có thể ngang, chéo hoặc có mảnh rời tùy theo cơ chế chấn thương. Toác MCM, trật khớp chày sên ra ngoài cũng thường gặp. - Gãy MCS, trật xương sên ra sau. - Tổn thương hệ thống dây chằng bên trong, dây chằng bên ngoài, dây chằng chày mác dưới, màng gian cốt.Phân loại gãy mắt cá chân Có nhiều cách phân loại gãy mắt cá chân: có cách phân loại đơn giản như gãy một mắt cá, hai mắt cá hay ba mắt cá.
Tuy nhiên, có nhiều cách phân loại phù hợp, cụ thể hơn về cơ chế và thương tổn như: 1. Phân loại của Lauge - Hansen Cách mô tả này dựa vào tư thế của bàn chân khi bị tác động và hướng của lực chấn thương. Theo phân loại của Lauge - Hansen thì gãy mắt cá gồm các loại sau: [11], [28], [38], [69]. Loại ngửa - xoay ngoài Cổ chân bị vẹo ra ngoài gây gãy chéo đầu dưới xương mác và gây rách dây chằng Delta hoặc gãy MCT.
Loại ngửa - khép Cổ chân bị vẹo vào trong, làm gãy ngang đầu dưới xương mác và gãy chéo đứng dọc ở MCT. Loại sấp - dạng Gãy ngang MCT và gãy chồng ngắn MCN. Loại sấp - xoay ngoài Gãy chéo xoắn xương mác cao trên khớp cổ chân. Gãy MCT hoặc đứt dây chằng Delta.
Loại sấp và gấp cổ chân phía mu chân Ít gặp. Gây gãy MCT, gãy xương mác trên mắt cá ngoài, nhưng thường gãy bờ trước xương chày hoặc mặt khớp xương chày phía sau. Phân loại theo Weber Năm 1949, Danis giới thiệu một bảng phân loại có tính giải phẫu học, hữu dụng cho điều trị phẫu thuật. Đến 1972, Weber đã cải tiến bảng phân loại này và được hội AO sử dụng cho đến ngày nay.