Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng x quang và đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật gãy weber c tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ năm 2017 2019

Chuyên khảo y tế phân tích Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng x quang và đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật gãy weber c tại, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Ngoại Khoa

Tác giả

Trần Văn Toàn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ nội trú

2019

93
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu học khớp cổ chân

1.2. Cơ chế chấn thương

1.3. Phân loại gãy mắt cá chân

1.4. Lâm sàng và X quang

1.5. Lịch sử điều trị gãy Weber

1.6. Các phương pháp điều trị gãy Weber C

1.7. Các nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng và X quang của gãy Weber C

3.3. Đánh giá kết quả điều trị gãy Weber C

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm lâm sàng và X quang của gãy Weber C

4.3. Đánh giá kết quả điều trị gãy Weber C

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Gãy Weber C Tại Bệnh Viện Đa Khoa Cần Thơ

Gãy xương Weber C là một trong những chấn thương phổ biến tại khớp cổ chân, ảnh hưởng đến khả năng vận động của bệnh nhân. Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị gãy Weber C tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong giai đoạn 2017-2019. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị sẽ giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Gãy Weber C

Gãy Weber C thường đi kèm với các triệu chứng như đau, sưng nề và biến dạng cổ chân. Bệnh nhân thường không thể tỳ đỡ bàn chân, dẫn đến mất khả năng vận động. Các dấu hiệu lâm sàng này cần được đánh giá kỹ lưỡng để đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

1.2. Phân Loại Gãy Weber C Và Ý Nghĩa Lâm Sàng

Phân loại gãy Weber C dựa trên vị trí gãy của xương mác so với khớp chày mác dưới. Việc phân loại này giúp xác định mức độ tổn thương và lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả. Gãy Weber C thường có tổn thương dây chằng và cần được phẫu thuật để phục hồi chức năng.

II. Vấn Đề Trong Điều Trị Gãy Weber C Tại Bệnh Viện Đa Khoa Cần Thơ

Điều trị gãy Weber C gặp nhiều thách thức do tính phức tạp của chấn thương. Các vấn đề như thời gian phục hồi, biến chứng sau phẫu thuật và khả năng tái phát là những yếu tố cần được xem xét. Nghiên cứu này sẽ phân tích các vấn đề chính trong điều trị gãy Weber C tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

2.1. Thách Thức Trong Chẩn Đoán Gãy Weber C

Chẩn đoán gãy Weber C có thể gặp khó khăn do các triệu chứng lâm sàng không rõ ràng. Việc sử dụng X quang và các phương pháp hình ảnh khác là cần thiết để xác định chính xác tình trạng gãy xương và các tổn thương kèm theo.

2.2. Biến Chứng Sau Phẫu Thuật Gãy Weber C

Biến chứng sau phẫu thuật gãy Weber C có thể bao gồm nhiễm trùng, liền xương không tốt và đau mãn tính. Những biến chứng này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.

III. Phương Pháp Điều Trị Gãy Weber C Hiệu Quả Tại Bệnh Viện Đa Khoa Cần Thơ

Phương pháp điều trị gãy Weber C bao gồm cả bảo tồn và phẫu thuật. Nghiên cứu này sẽ trình bày các phương pháp điều trị đã được áp dụng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, từ đó đánh giá hiệu quả của từng phương pháp.

3.1. Phương Pháp Phẫu Thuật Trong Điều Trị Gãy Weber C

Phẫu thuật là phương pháp chính để điều trị gãy Weber C, nhằm phục hồi cấu trúc giải phẫu và chức năng khớp cổ chân. Các kỹ thuật phẫu thuật như kết hợp xương và cố định bằng nẹp được áp dụng để đảm bảo sự ổn định cho xương gãy.

3.2. Điều Trị Bảo Tồn Gãy Weber C

Điều trị bảo tồn có thể được áp dụng cho những trường hợp gãy nhẹ mà không có biến dạng rõ rệt. Phương pháp này bao gồm bất động và sử dụng thuốc giảm đau để kiểm soát triệu chứng, giúp bệnh nhân phục hồi dần dần.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Điều Trị Gãy Weber C Tại Bệnh Viện Đa Khoa Cần Thơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp phẫu thuật mang lại hiệu quả cao trong điều trị gãy Weber C. Tỷ lệ liền xương và phục hồi chức năng khớp cổ chân sau phẫu thuật được ghi nhận là khả quan. Nghiên cứu sẽ trình bày chi tiết các kết quả thu được từ bệnh nhân.

4.1. Tỷ Lệ Liền Xương Sau Phẫu Thuật Gãy Weber C

Tỷ lệ liền xương sau phẫu thuật gãy Weber C đạt khoảng 85%, cho thấy hiệu quả của phương pháp phẫu thuật trong việc phục hồi chức năng khớp cổ chân. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc áp dụng phẫu thuật cho các trường hợp gãy nặng.

4.2. Đánh Giá Chức Năng Khớp Sau Điều Trị

Đánh giá chức năng khớp cổ chân sau điều trị cho thấy hầu hết bệnh nhân có thể trở lại hoạt động bình thường. Việc theo dõi lâu dài cho thấy tỷ lệ tái phát và biến chứng là thấp, điều này khẳng định tính hiệu quả của phương pháp điều trị.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Gãy Weber C Tại Bệnh Viện Đa Khoa Cần Thơ

Nghiên cứu về gãy Weber C tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đã chỉ ra rằng phương pháp phẫu thuật là lựa chọn tối ưu cho điều trị. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc điều trị và quản lý bệnh nhân gãy xương cổ chân.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Gãy Weber C

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc cải thiện các phương pháp điều trị và giảm thiểu biến chứng. Việc áp dụng công nghệ mới trong phẫu thuật có thể nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân gãy Weber C.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Điều Trị Gãy Weber C

Khuyến nghị cho các bác sĩ là cần đánh giá kỹ lưỡng tình trạng bệnh nhân trước khi quyết định phương pháp điều trị. Việc theo dõi và chăm sóc sau phẫu thuật cũng rất quan trọng để đảm bảo phục hồi tốt nhất cho bệnh nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng x quang và đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật gãy weber c tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ năm 2017 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Giải phẫu học khớp cổ chân Khớp cổ chân được cấu tạo rất phức tạp gồm 3 xương: đầu xa xương chày, đầu xa xương mác và xương sên cùng với hệ thống dây chằng: Dây chằng bên ngoài, dây chằng bên trong, dây chằng chày mác dưới, mạch máu thần kinh và các gân cơ đi ngang qua vùng cổ chân [13], [24], [69]. Khớp cổ chân là khớp liên kết giữa đầu dưới hai xương cẳng chân với xương gót và xương sên. Cấu tạo xương 1. Đầu dưới xương chày Xương chày là xương chịu lực vùng cổ chân, đầu dưới nhỏ hơn đầu trên.

Có hình khối vuông 5 mặt, cần chú ý mặt sau: - Mặt dưới: tiếp khớp với diện ròng rọc xương sên, có gờ phía trước và phía sau để không cho xương sên ra trước và ra sau. Gờ sau xuống thấp hơn hay còn gọi là mắt cá sau (MCS), mắt cá thứ ba của Destot. - Mặt trong: có phần xuống thấp hơn mặt dưới gọi là mắt cá trong, mặt ngoài mắt cá trong (MCT) tiếp khớp với mặt trong xương sên, có rãnh sau mắt cá trong để cho gân cơ chày sau, cơ gấp chung các ngón chạy qua. - Mặt ngoài: có khuyết mác, khớp với đầu dưới xương mác.

Phần dưới xương mác Xương mác nằm phía ngoài cẳng chân, ở 1/3 dưới trên mỏm mắt cá ngoài (MCN) từ 6 - 8 cm xương mác xoắn từ sau vào trong, đây là điểm yếu dễ bị gãy. Đầu dưới xương mác hình tam giác, xuống thấp hơn MCT 1 cm. 4 Mặt trong: phía trên khớp với khuyết mác đầu dưới xương chày tạo nên khớp sợi chày mác. Phía dưới tiếp khớp với mặt ngoài ròng rọc xương sên.

Phía sau có rãnh cho cơ mác dài và mác ngắn chạy qua. Trước Trần chày Xương mác Màng gian cốt Ròng Sau rọc Thân Xương chày Xương mác Cổ Chỏm Xương sên Hình 1. Cấu tạo xương khớp cổ chân (Nguồn: theo Egol K. Xương sên Xương sên có hình con sên gồm 3 phần: chỏm sên, cổ sên và thân sên.

Được xem như một hình hộp sáu mặt. Phía trên là xương chày, phía dưới là xương gót, hai mặt bên khớp với hai mắt cá tương ứng [13], [28]. Mặt trên và hai mặt bên: khớp với đầu dưới xương chày và xương mác tạo nên một ròng rọc sên có 3 diện khớp: diện khớp trên, diện khớp mắt cá ngoài và diện khớp mắt cá trong. Mặt dưới: có 3 diện khớp, khớp với xương gót: trước, giữa và sau.

Mặt trước: chỏm trên có diện khớp ghe, hình tròn dài khớp với xương ghe. 5 Mặt sau: hẹp, có mỏm sau xương sên. Phía trước mặt trên xương sên rộng hơn phía sau, nên khi gấp cổ chân về phía mu tối đa thì MCN di chuyển ra ngoài khoảng 2 mm. Phương tiện nối khớp Gồm bao khớp và hệ thống dây chằng.

Bao khớp Bám vào chu vi các diện khớp, ở phía trước mỏng, hai bên dày lên thành các dây chằng. Hệ thống dây chằng Các dây chằng bên trong còn gọi là dây chằng Delta, xếp thành 2 lớp, tăng cường sự vững chắc bên trong [13], [26], [41]. Lớp nông: rộng, hình quạt, từ MCT xuống dưới tới xương sên, xương gót và xương ghe. Gồm có các phần: - Phần chày sên trước.

- Phần chày ghe. Lớp sâu: bám từ phần sau trong của MCT gần như chạy ngang bám vào trục quay của xương sên, giữ xương sên không trật ra ngoài. DC DC chày sên trước chày DC chày ghe sên DC chày sên trước sau DC chày ghe DC chày gót Hình 1. Hệ thống dây chằng bên trong (Nguồn: theo Egol K.A (2015)) [28] 6 Các dây chằng bên ngoài: DC mác sên trước, sau và DC mác gót.

- Dây chằng mác sên trước: từ phần trước MCN đến phía trước ngoài của xương sên. - Dây chằng mác sên sau: từ phía sau MCN đến phía sau ngoài xương sên. - Dây chằng mác gót: từ sau dưới MCN đến phía ngoài xương gót. DC chày mác trước DC sên mác trước DC sên mác sau DC mác gót Hình 1.

Hệ thống dây chằng bên ngoài (Nguồn: theo Egol K.A (2015)) [28] Các dây chằng chày mác dưới: - Dây chằng chày mác trước: chạy từ bờ trước ngoài xương chày đến bờ trước đầu dưới xương mác. A: DC chày mác trước B: DC chày mác sau C: Màng gian cốt C B A A B A Hình 1. Hệ thống dây chằng chày mác dưới (Nguồn: theo Egol K.A (2015)) [28] 7 - Dây chằng chày mác sau và dây chằng ngang dưới: chạy từ MCS đến phía sau đầu dưới xương mác, dây chằng chày mác sau ở trên dây chằng ngang dưới. - Màng gian cốt: nối xương chày và xương mác trên suốt chiều dài của xương, phía dưới dày lên thành dây chằng gian cốt.

Liên quan vùng cổ chân 1. Động mạch Động mạch chày trước: đoạn cuối của động mạch chày trước chạy phía trước cổ chân, dưới mạc giữ gân duỗi xuống đổi tên thành động mạch mu chân. Ngoài ra phía trước có thể có ngành cuối của động mạch xiên thuộc động mạch mác. Động mạch chày sau: chạy phía sau trong cổ chân, xuống ống gót chia làm hai ngành gan chân trong và gan chân ngoài đi theo hai tầng của ống gót [2], [4].

Tĩnh mạch Tĩnh mạch hiển to: là tĩnh mạch nông chạy qua trước MCT đi chếch lên phía trong cẳng chân. Tĩnh mạch hiển bé: chạy nông, vòng sau MCN đi lên. Thần kinh Phía trước: ở nông có các ngành tận của thần kinh mác nông. Ở lớp sâu có thần kinh mác sâu.

Phía sau: ở lớp nông có các nhánh tận của thành kinh hiển, nhánh gót trong của thần kinh chày. Lớp sâu thần kinh chày tới ống gót chia làm 2 ngành: thần kinh gan chân trong và gan chân ngoài. Gân cơ vùng cổ chân Phía trước: chạy dưới mạc hãm các gân duỗi, xếp thành một hang từ trong ra ngoài có gân cơ chày trước, gân cơ duỗi dài ngón cái, gân cơ duỗi dài các ngón chân. Mỗi gân có một bao hoạt dịch riêng.

Các cơ này tham gia vào động tác gấp cổ chân về phía mu, xoay trong. 8 Phía sau: có gân gót và gân cơ gan chân xuống bám vào nửa dưới mặt sau xương gót, tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân. Phía sau ngoài: có gân cơ mác dài và mác ngắn, chạy sau MCN. Tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân, xoay ngoài và sấp.

Phía sau trong: là ống gót gồm bó mạch thần kinh chày sau và các gân cơ cẳng chân sau, cơ gấp dài các ngón chân, cơ gấp dài ngón cái. Tham gia động tác gấp bàn chân về phía gan chân, ngửa bàn chân [2], [4], [13]. Sinh lý và chức năng khớp cổ chân Khớp cổ chân bao gồm ba mặt khớp: mặt khớp của trần xương chày với xương sên, sên - MCT, sên - MCN. Mộng chày mác bao gồm mặt dưới xương chày, hai bên là MCT và MCN liên kết với nhau bởi khớp chày mác dưới, giữ chặt xương sên ở giữa.

Xương sên truyền sức nặng của toàn thân xuống cho xương gót (điểm tỳ vững) và cho vòm bàn chân (điểm tỳ đàn hồi). Vì vậy chỉ cần biến dạng rất nhỏ của mộng chày mác (MCM) và xương sên di lệch ra ngoài cũng đủ gây đau khi đứng và đi lại. Tình trạng này kéo dài sẽ gây biến dạng, thoái hóa mặt khớp cổ chân [3], [5], [8], [28]. Động tác của khớp cổ chân: gấp duỗi bàn chân.

Trong đó: - Gấp về phía mu chân: 250. - Gấp về phía gan chân: 450. Ngoài ra khớp cổ chân còn tham gia các động tác khác như: - Xoay ngoài - xoay trong.Cơ chế chấn thương Năm 1771, Jean - Pierre David lần đầu tiên mô tả cơ chế gãy mắt cá đó là hướng lực làm xoay ngoài bàn chân. Dupuytren đã mô tả chấn thương vùng cổ chân do lực chấn thương làm dạng bàn chân gây ra những tốn thương: gãy MCT, gãy thân xương mác, tổn thương dây chằng chày mác dưới, ông cũng mô tả trật xương sên ra ngoài gây toác mộng chày mác (MCM).

Huguier (1848): đã nghiên cứu thêm hướng lực chấn thương làm xoay ngoài bàn chân gây gãy MCT hoặc đứt dây chằng Delta, gãy xương mác ở 1/3 dưới đến 1/3 trên. Sự ra đời của tia X quang và những ứng dụng trong y học đã giúp cho nhiều tác giả nghiên cứu về cách phân loại tổn thương, cơ chế chấn thương vùng cổ chân như: Ashurst - Brommer (1922), Lauge - Hansen (1948), AO (1958), Danis Weber (1966). Có nhiều cơ chế chấn thương tùy thuộc vào tư thế của bàn chân, hướng lực gây chấn thương, ứng với từng cơ chế có những hình thái tổn thương khác nhau. Những thương tổn thường gặp trong gãy mắt cá là: - Gãy MCT: nếu do dây chằng Delta căng giãn thì đường gãy ngang, nếu do xương sên đè nén trực tiếp thì đường gãy đứng dọc.

- Gãy xương mác: ở trên, dưới hoặc ngang mức dây chằng chày mác dưới, đường gãy có thể ngang, chéo hoặc có mảnh rời tùy theo cơ chế chấn thương. Toác MCM, trật khớp chày sên ra ngoài cũng thường gặp. - Gãy MCS, trật xương sên ra sau. - Tổn thương hệ thống dây chằng bên trong, dây chằng bên ngoài, dây chằng chày mác dưới, màng gian cốt.Phân loại gãy mắt cá chân Có nhiều cách phân loại gãy mắt cá chân: có cách phân loại đơn giản như gãy một mắt cá, hai mắt cá hay ba mắt cá.

Tuy nhiên, có nhiều cách phân loại phù hợp, cụ thể hơn về cơ chế và thương tổn như: 1. Phân loại của Lauge - Hansen Cách mô tả này dựa vào tư thế của bàn chân khi bị tác động và hướng của lực chấn thương. Theo phân loại của Lauge - Hansen thì gãy mắt cá gồm các loại sau: [11], [28], [38], [69]. Loại ngửa - xoay ngoài Cổ chân bị vẹo ra ngoài gây gãy chéo đầu dưới xương mác và gây rách dây chằng Delta hoặc gãy MCT.

Loại ngửa - khép Cổ chân bị vẹo vào trong, làm gãy ngang đầu dưới xương mác và gãy chéo đứng dọc ở MCT. Loại sấp - dạng Gãy ngang MCT và gãy chồng ngắn MCN. Loại sấp - xoay ngoài Gãy chéo xoắn xương mác cao trên khớp cổ chân. Gãy MCT hoặc đứt dây chằng Delta.

Loại sấp và gấp cổ chân phía mu chân Ít gặp. Gây gãy MCT, gãy xương mác trên mắt cá ngoài, nhưng thường gãy bờ trước xương chày hoặc mặt khớp xương chày phía sau. Phân loại theo Weber Năm 1949, Danis giới thiệu một bảng phân loại có tính giải phẫu học, hữu dụng cho điều trị phẫu thuật. Đến 1972, Weber đã cải tiến bảng phân loại này và được hội AO sử dụng cho đến ngày nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị Gãy Weber C Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị của gãy xương Weber C, một loại gãy xương phức tạp thường gặp trong thực hành lâm sàng. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về tình trạng bệnh nhân mà còn đưa ra những phương pháp điều trị hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả nong bóng và đặt giá đỡ nội mạch trong điều trị tắc động mạch chậu tasc ii a b, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp điều trị mạch máu. Ngoài ra, tài liệu Luận án nghiên cứu hình thái tổn thương và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị túi phình động mạch não cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tổn thương mạch máu và phương pháp phẫu thuật liên quan. Cuối cùng, tài liệu Luận văn đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi khối u buồng trứng tại bệnh viện sản nhi bắc giang sẽ cung cấp thêm thông tin về các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại trong điều trị bệnh lý khác.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y tế.