Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU HỌC 1. Hình thể ngoài Tiền liệt tuyến (TLT) có hình dạng như hạt dẻ to, dẹt, gồm có hai múi, sờ thấy chắc và hơi mềm. TLT trung bình có chiều rộng 4cm, cao 3cm, dày 2.5cm, trọng lượng khoảng 15 – 25g ở người lớn, trung bình 18g, ở người già có thể to gấp bội, thường phát triển to ra ở phần sau [23].
Thiết đồ đứng dọc qua tiền liệt tuyến (Nguồn: Frank H.Neter,MD; ATLAS giải phẫu người [43]) Tiền liệt tuyến nằm trên hoành chậu hông, dưới bàng quang, sau xương mu, giữa hai cơ nâng hậu môn và trước trực tràng. Tiền liệt tuyến có hình nón hoặc hình trứng, mà đáy ở trên rộng, đỉnh ở dưới hẹp. Có bốn mặt là mặt trước, mặt sau, hai mặt dưới bên và là nơi đi qua của niệu đạo tiền liệt tuyến. 4 Tiền liệt tuyến chia làm ba thùy: là thùy phải và thùy trái ngăn cách nhau bởi một rãnh ở mặt sau.
Thùy thứ ba gọi là eo tiền liệt tuyến hay thùy giữa. Thùy giữa nằm giữa niệu đạo và ống phóng tinh. Hệ thống cơ thắt: + Cơ thắt trơn là những sợi cơ trơn nằm ở hai lớp. Lớp trong mỏng có các sợi chạy dọc, một số sợi cơ nông ở sau vùng tam giác sẽ mất dần khi đến ụ núi.
Lớp ngoài là các sợi cơ vòng tròn hoặc chạy chéo khá dày ở vùng cổ bàng quang, do đó người ta đã giải thích đó là cơ thắt trơn. + Cơ thắt vân bao lấy cơ thắt trơn và niệu đạo từ cổ bàng quang đến sàn tầng sinh môn. Vì vậy, ở người lớn nó ở xung quanh niệu đạo màng như một bao dày, rộng khoảng 2cm, mỏng dần đi về phía trên, bao lấy mỏm tiền liệt tuyến [23],[24]. Hình thể trong Đây là thành niệu đạo, đoạn tiền liệt tuyến niệu đạo chạy thẳng xuống dưới, hơi cong lõm ra trước, còn trục của tiền liệt tuyến chạy chệch xuống dưới và ra trước.
- Mào niệu đạo: ở ngay giữa niệu đạo TLT có một chỗ nổi gờ lên, có khi liên tiếp với cổ bàng quang ở trên và đi xuống đến tận niệu đạo màng bên dưới. - Lồi tinh (còn gọi là ụ núi): nằm ở trên mào niệu đạo, ở 1/3 giữa và 1/3 dưới của đoạn niệu đạo TLT, là mốc giải phẫu quan trọng trong cắt đốt nội soi. Giữa đỉnh của lồi tinh là túi bầu dục tiền liệt tuyến, có hai lỗ phóng tinh nằm cạnh hai bên. Túi bầu dục của TLT là dấu vết còn lại của phần cuối ống cận trung thận, tương ứng với tử cung và âm đạo ở nữ.
Hai bên lồi tinh là hai rãnh, ở đáy rãnh có nhiều lỗ nhỏ của các ống tuyến đổ vào [23],[31],[39]. Xoang tiền liệt tuyến: là nơi lõm xuống nằm trên mặt trái và phải của mào niệu đạo, nơi đổ của các ống tiền liệt tuyến và niệu đạo [23],[31]. Thiết đồ đứng ngang qua tiền liệt tuyến (Nguồn: Frank H.Neter,MD; ATLAS giải phẫu người [43]) 1. Cấu tạo mô học tiền liệt tuyến Tiền liệt tuyến là một tập hợp nhiều tuyến ngoại tiết kiểu ống túi phức tạp.
TLT được chia thành nhiều thùy, mỗi thùy là một tuyến riêng biệt, ống bài xuất của chúng đổ vào niệu đạo tiền liệt. Nhu mô của TLT được chia thành 3 lớp: lớp trong cùng gồm những tuyến tầng niêm mạc, lớp giữa gồm những tuyến dưới niêm mạc và lớp ngoài cùng là những tuyến mà gọi là tuyến chính. Ở người già, những tuyến của tầng niêm mạc và tầng dưới niêm mạc thường tăng sản, tạo thành những khối chèn ép vào cổ bàng quang và niệu đạo, làm chúng hẹp lại, có thể gây ra bí tiểu [18]. TLT gồm khoảng 70% mô tuyến và 30% lớp đệm mô sợi cơ, được bao bọc bởi một lớp vỏ xơ có chứa những sợi cơ trơn.
Biểu mô gồm 2 loại tế bào là tế bào chế tiết và tế bào đáy. Mô đệm là lớp mô liên kết tạo bởi tế bào sợi, 6 những sợi tạo keo, sợi chun và những bó sợi cơ trơn. Trong bệnh bướu lành tiền liệt tuyến, u được cấu tạo bởi các thành phần bao gồm mô tuyến, mô sợi và cơ trơn. Mô sợi càng nhiều thì u xơ càng xơ cứng và dễ gây bế tắc.
Sự phân chia các vùng Về phương diện phôi thai, chia tiền liệt tuyến gồm năm thùy: thùy trước, thùy giữa, hai thùy bên, thùy sau [30]. Theo Gilvernet, tiền liệt tuyến gồm 2 phần: phần đầu (trên ụ núi) và phần đuôi (dưới ụ núi), phân ranh giới bởi đường ngang, chạy qua 2 lỗ ống phóng tinh. Phần đầu nằm ở quanh niệu đạo, gần cổ bàng quang, nên nếu có bướu TLT sẽ sớm gây ra triệu chứng lâm sàng. Phần đuôi ở gần mỏm tiền liệt tuyến, ở xa cổ bàng quang, nên khi có bướu TLT, chậm có triệu chứng lâm sàng [2],[31].
Phân chia tiền liệt tuyến theo McNeal (Nguồn: Giải phẫu học sau đại học [31]) Theo phương diện giải phẫu học ứng dụng, tiền liệt tuyến được chia thành bốn vùng: vùng trung tâm chiếm gần 20% của tuyến; vùng ngoại vi chiếm gần 75%, bao quanh gần như toàn bộ TLT; vùng chuyển tiếp chiếm dưới 5%, gồm hai thùy ở hai bên niệu đạo TLT; vùng niệu đạo và các tuyến xung quanh niệu đạo chiếm khoảng 1% và nằm dọc theo niệu đạo TLT [30]. Vị trí và liên quan giải phẫu học Đáy của TLT có liên quan chặt chẽ với cổ bàng quang, tiếp giáp với mép sau của cổ bàng quang là nơi dễ bị thủng khi cắt đốt nội soi (CĐNS). Mỏm của TLT tiếp giáp với cơ vòng ngoài là vị trí không thể làm tổn thương khi CĐNS. Mặt sau, cân Denonvillier ngăn cách với trực tràng.
Giữa TLT và cân Denonvillier là màng thần kinh hạ vị trong đó có thần kinh cương, nhánh của động mạch trực tràng dưới và giữa. CĐNS có thể làm thủng vỏ TLT, chạm vào hệ tĩnh và động mạch làm chảy máu khó cầm, đôi khi phải phẫu thuật mở cấp cứu để khâu lại. Mặt khác TLT bao quang niệu đạo TLT nên khi cắt bỏ TLT, người ta phải cắt luôn niệu đạo TLT [23]. Hệ thống cơ vòng: - Cơ vòng trong cấu tạo do sự đan chéo của các thớ cơ chóp bàng quang tạo nên cổ bàng quang, cổ bàng quang luôn đóng kín khi ở trạng thái nghỉ, mở ra lúc đi tiểu, đóng lại lúc phóng tinh.
- Cơ vòng ngoài chia thành ba vùng: vùng thứ nhất sát lồi tinh, vùng thứ hai là lồi tinh đến vỏ TLT, vùng thứ ba là ở vị trí vỏ TLT. Tổn thương vùng thứ hai, thưa ba có thể gây ra tiểu không kiểm soát. Hệ mạch máu và thần kinh Tưới máu cho các phần lớn TLT, phần lưng túi tinh và mặt sau BQ là động mạch TLT xuất phát từ động mạch bàng quang, là nhánh của động mạch chậu trong. Nhóm mạch máu phụ là các nhánh từ động mạch trực tràng giữa và động mach thẹn trong.
Tĩnh mạch TLT cùng với tĩnh mạch mu dương vật, tĩnh mạch sau mu, tĩnh mạch bàng quang dưới tạo nên đám rối tĩnh mạch Santorini ở trước TLT rất dày đặc rồi tách thành tĩnh mạch bên, tĩnh mạch thẹn trong đổ về tĩnh mạch hạ vị. Khi CĐNS, các tĩnh mạch này bị cắt ngang bởi lưỡi dao điện, nước rửa sẽ thoát vào cơ thể gây nên hội chứng sau CĐNS [23],[31]. 8 Thần kinh chi phối TLT tách từ đám rối hạ vị. Thần kinh phó giao cảm tận cùng ở các tuyến nang và kích thích tiết.
Thần kinh giao cảm gây co thắt cơ trơn của vỏ và mô đệm [23],[31].Sự cấp huyết động mạch của tiền liệt tuyến (mẫu bướu lành lành tính) (Nguồn: Giải phẫu học sau đại học [31]) 1. NGUYÊN NHÂN BỆNH SINH, SINH LÝ VÀ GIẢI PHẪU BỆNH 1. Nguyên nhân bệnh sinh 1. Yếu tố nội tiết Sự phát triển của TLT phụ thuộc vào nội tiết của tinh hoàn trong đó testosteron là sản phẩm của tế bào Leydig.
Ở nam giới, nếu cắt bỏ tinh hoàn trước tuổi dậy thì thì sẽ không bị bướu lành TLT [40]. Testosteron đi qua màng tế bào không cần một cơ chế vẫn chuyển tích cực nào. Khi đến bào tương, dưới tác động của men 5-alpha-reductase, testosteron chuyển thành DHT hoạt động, hậu quả là hoạt động sao chép, giải mã và đưa đến tổng hợp protein [40]. 9 Nồng độ DHT trong máu của bệnh nhân bướu lành TLT cao hơn so với người bình thường cùng độ tuổi.
Theo Siteri và Wilson nhận thấy nồng độ DHT ở bệnh nhân bướu lành TLT tăng gấp 3 - 4 lần so với nồng độ DHT trong tổ chức TLT bình thường. Ở tuổi già, testosteron trong máu giảm, trong khi estrogen tăng. Estrogen làm tăng sự nhạy cảm của các thụ thể androgen, do đó tác động của testosteron tự do sẽ càng lớn đối với các mô tuyến [40]. Yếu tố tăng trưởng Sự tác động sinh học của yếu tố ngoại sinh lên TLT được thông qua trung gian các yếu tố điều hòa sự tăng trưởng peptid.
Do vậy, dường như DHT là thiết yếu nhưng nó không chịu trách nhiệm trực tiếp lên sự tăng trưởng của tế bào mà chính các yếu tố nội sinh. Một số yếu tố tăng trưởng như keratinocyte growth factor (KGF), Epidermal growth factor (EGF), insulin – like growth factor (IGF),. góp phần cho sự tăng trưởng tế bào tiền liệt tuyến. Ngược lại transforming growth factor – β (TGF-β) lại có tác dụng ức chế [40].
Sinh lý bệnh bướu lành tiền liệt tuyến Khi phát triển lớn, u sẽ phát triển theo hai cách: - Phát triển sang hai bên, tạo ra hai thùy bên. Trường hợp này ít gây bế tắc vì giữa hai thùy bên sẽ còn một khe hở để nước tiểu qua được. - Phát triển lên trên, đẩy cổ BQ lên cao. Trường hợp này gây bế tắc nhiều hơn, vì thùy giữa hoạt động như một nắp đậy làm cho cổ BQ không mở được lúc đi tiểu.
Đồng thời cổ BQ bị đẩy lên cao sẽ tạo ra một khoảng lõm ở phía sau của đáy BQ, do đó lực co bóp của BQ không được chuyển toàn vẹn đến cổ BQ [17],[24]. Mức độ bế tắc gây nên do bướu không phụ thuộc kích thước bướu mà phụ thuộc chủ yếu vào: độ cứng của bướu, mức độ cổ bàng quang đẩy lên [24]. 10 Bướu tiền liệt tuyến phát triển qua ba giai đoạn: - Giai đoạn bù trừ hiệu quả: BQ tăng cường sức co bóp để thắng sức cản gây nên do bướu lành TLT, bàng quang chống đối độ 1, có dấu hiệu cột và lỗ nhẹ qua nội soi. Ở giai đoạn này bệnh nhân không có triệu chứng gì đáng kể.
- Giai đoạn bù trừ kém hiệu quả: bàng quang có hình ảnh chống đối độ 2, có dấu hiệu cột và lõm nhìn qua nội soi. Sau khi bệnh nhân tiểu xong, vẫn còn nước tiểu tồn lưu.