Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị sóng xung kích ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính

Nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả điều trị sóng xung kích cho bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính, mang lại hy vọng mới trong điều trị.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2023

187
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. BỆNH THIẾU MÁU CƠ TIM CỤC BỘ MẠN TÍNH

1.1.1. Khái niệm

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Điều Trị Sóng Xung Kích Thiếu Máu Cơ Tim 55

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh động mạch vành (ĐMV) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu. Tại Việt Nam, bệnh ĐMV cũng chiếm tỷ lệ đáng kể trong số bệnh nhân nhập viện. Bệnh ĐMV được chia thành hội chứng ĐMV cấp (HCVC) và hội chứng vành mạn (HCVM). Mục tiêu điều trị HCVM là giảm đau thắt ngực (ĐTN) và ngăn ngừa biến chứng tim mạch. Các phương pháp điều trị bao gồm điều trị nội khoa, can thiệp vành qua da (PCI) và phẫu thuật bắc cầu (CABG). Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn tiếp tục bị ĐTN, dẫn đến tình trạng ĐTN kháng trị. Điều trị sóng xung kích cơ tim (CSWT) là một phương pháp mới đầy hứa hẹn cho những bệnh nhân này. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá đặc điểm lâm sàng và hiệu quả của liệu pháp sóng xung kích ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính.

1.1. Hội Chứng Vành Mạn Tính Định Nghĩa và Phân Loại

Hội chứng vành mạn tính (HCVM) là thuật ngữ hiện nay được sử dụng thay thế cho bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính. HCVM bao gồm nhiều bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, từ bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ĐMV đến bệnh nhân sau can thiệp mạch vành. Các khuyến cáo điều trị ĐTN ổn định của ACC/AHA áp dụng cho bệnh nhân có hội chứng đau ngực ổn định do bệnh thiếu máu cơ tim. Nghiên cứu này sử dụng danh pháp HCVM để phù hợp với thông lệ quốc tế.

1.2. Đau Thắt Ngực Kháng Trị Vấn Đề Nan Giải Trong HCVM

Đau thắt ngực kháng trị là tình trạng mạn tính do cơn ĐTN từ bệnh ĐMV không kiểm soát được bằng điều trị nội khoa, PCI và CABG. Tình trạng này gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tỷ lệ ĐTN kháng trị ở bệnh nhân HCVM ước tính khoảng 3-10%. Việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới cho ĐTN kháng trị là vô cùng quan trọng. Điều trị sóng xung kích là một trong những lựa chọn đầy triển vọng.

II. Cách Sóng Xung Kích Cải Thiện Thiếu Máu Cơ Tim Cục Bộ 58

Phương pháp điều trị sóng xung kích (CSWT) là một phương pháp không xâm lấn, có tiềm năng cải thiện đáng kể cơn ĐTN ở bệnh nhân HCVM có ĐTN kháng trị. Năm 2006, Khattab A. và cộng sự đã nghiên cứu ứng dụng CSWT tại Đức cho bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính có ĐTN kháng trị và bằng chứng TMCT trên xạ hình SPECT. Kết quả cho thấy cải thiện đáng kể tỷ lệ ĐTN và tình trạng tưới máu cơ tim. Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả của phương pháp này vẫn còn nhiều tranh cãi và cần được nghiên cứu thêm. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng áp dụng, mức độ an toàn và hiệu quả của CSWT tại Việt Nam.

2.1. Cơ Chế Tác Dụng Của Sóng Xung Kích Trong Tim Mạch

Cơ chế tác dụng của sóng xung kích trong tim mạch bao gồm kích thích tăng sinh mạch máu, cải thiện chức năng nội mạc và giảm viêm. Sóng xung kích tạo ra các vi tổn thương, kích thích cơ thể tự phục hồi và tái tạo mạch máu mới. Điều này giúp tăng cường tưới máu cơ tim và giảm tình trạng thiếu máu cơ tim.

2.2. Nghiên Cứu Tiền Lâm Sàng Về Hiệu Quả Sóng Xung Kích

Các nghiên cứu tiền lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của sóng xung kích trong việc cải thiện chức năng tim và giảm tổn thương cơ tim. Sóng xung kích có thể kích thích sự phát triển của các mạch máu mới, cải thiện lưu lượng máu và giảm tình trạng thiếu máu cục bộ. Các nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng CSWT trong điều trị bệnh tim mạch.

2.3. Chỉ Định và Chống Chỉ Định Của Liệu Pháp Sóng Xung Kích

Chỉ định của liệu pháp sóng xung kích bao gồm bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính có ĐTN kháng trị, không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Chống chỉ định bao gồm bệnh nhân có rối loạn đông máu, đang sử dụng thuốc chống đông, hoặc có các bệnh lý tim mạch nghiêm trọng khác. Việc đánh giá kỹ lưỡng bệnh nhân trước khi điều trị là rất quan trọng.

III. Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Bệnh Nhân Thiếu Máu Cơ Tim 59

Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đặc điểm kỹ thuật của phương pháp điều trị sóng xung kích ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính. Mục tiêu là đánh giá kết quả trong 6 tháng của phương pháp sóng xung kích trong điều trị bệnh nhân thiếu máu cơ tim. Nghiên cứu được thực hiện tại Viện Tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Các bệnh nhân được lựa chọn theo tiêu chuẩn chặt chẽ và được theo dõi sát sao trong quá trình điều trị.

3.1. Tiêu Chuẩn Lựa Chọn và Loại Trừ Bệnh Nhân Nghiên Cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân bao gồm bệnh nhân được chẩn đoán thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính có ĐTN kháng trị, không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm bệnh nhân có rối loạn đông máu, đang sử dụng thuốc chống đông, hoặc có các bệnh lý tim mạch nghiêm trọng khác. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn này giúp đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu.

3.2. Quy Trình Kỹ Thuật Điều Trị Sóng Xung Kích Chi Tiết

Quy trình kỹ thuật điều trị sóng xung kích bao gồm xác định vùng cơ tim bị thiếu máu, lựa chọn thông số điều trị phù hợp và thực hiện chiếu sóng xung kích. Bệnh nhân được theo dõi điện tim và huyết áp trong quá trình điều trị. Sau điều trị, bệnh nhân được theo dõi các biến chứng và đánh giá hiệu quả điều trị.

IV. Kết Quả Điều Trị Sóng Xung Kích Nghiên Cứu Lâm Sàng 57

Nghiên cứu đánh giá kết quả trong 6 tháng của phương pháp sóng xung kích trong điều trị bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính. Các chỉ số đánh giá bao gồm mức độ ĐTN, chức năng tim và tưới máu cơ tim. Kết quả cho thấy điều trị sóng xung kích có thể cải thiện đáng kể các chỉ số này ở một số bệnh nhân. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định rõ hơn hiệu quả và đối tượng bệnh nhân phù hợp với phương pháp này.

4.1. Đánh Giá Mức Độ Cải Thiện Đau Thắt Ngực Sau Điều Trị

Mức độ cải thiện ĐTN được đánh giá bằng thang điểm CCS (Canadian Cardiovascular Society). Kết quả cho thấy một số bệnh nhân giảm đáng kể mức độ ĐTN sau điều trị sóng xung kích. Tuy nhiên, một số bệnh nhân không có sự thay đổi đáng kể. Cần có thêm nghiên cứu để xác định các yếu tố dự đoán khả năng đáp ứng với điều trị.

4.2. Thay Đổi Chức Năng Tim Sau Liệu Pháp Sóng Xung Kích

Chức năng tim được đánh giá bằng siêu âm tim và xạ hình tưới máu cơ tim. Kết quả cho thấy một số bệnh nhân cải thiện chức năng tim sau liệu pháp sóng xung kích. Tuy nhiên, sự cải thiện này không phải là đồng đều ở tất cả các bệnh nhân. Cần có thêm nghiên cứu để xác định cơ chế tác dụng của sóng xung kích lên chức năng tim.

4.3. Ảnh Hưởng Của Sóng Xung Kích Đến Tưới Máu Cơ Tim

Tưới máu cơ tim được đánh giá bằng xạ hình tưới máu cơ tim (SPECT). Kết quả cho thấy một số bệnh nhân cải thiện tưới máu cơ tim sau điều trị sóng xung kích. Tuy nhiên, sự cải thiện này không phải là đồng đều ở tất cả các bệnh nhân. Cần có thêm nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của sóng xung kích lên tưới máu cơ tim.

V. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Điều Trị Sóng Xung Kích 56

Nghiên cứu cũng xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của điều trị sóng xung kích. Các yếu tố này bao gồm đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân, mức độ tổn thương mạch vành và thông số kỹ thuật của phương pháp điều trị. Việc xác định các yếu tố này có thể giúp lựa chọn bệnh nhân phù hợp và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.

5.1. Mối Liên Quan Giữa Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Điều Trị

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân và kết quả điều trị sóng xung kích. Ví dụ, bệnh nhân có mức độ ĐTN nặng hơn có thể ít đáp ứng với điều trị hơn. Cần có thêm nghiên cứu để xác định rõ hơn các yếu tố lâm sàng dự đoán khả năng đáp ứng với điều trị.

5.2. Ảnh Hưởng Của Mức Độ Tổn Thương Mạch Vành Đến Hiệu Quả

Mức độ tổn thương mạch vành cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của điều trị sóng xung kích. Bệnh nhân có tổn thương mạch vành nặng hơn có thể ít đáp ứng với điều trị hơn. Cần có thêm nghiên cứu để xác định mức độ tổn thương mạch vành tối ưu cho điều trị bằng sóng xung kích.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Về Sóng Xung Kích Tim 52

Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về tiềm năng của điều trị sóng xung kích trong điều trị bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính có ĐTN kháng trị. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định rõ hơn hiệu quả, đối tượng bệnh nhân phù hợp và tối ưu hóa phương pháp điều trị. Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc xác định các yếu tố dự đoán khả năng đáp ứng với điều trị và đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp này.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu và Ý Nghĩa Thực Tiễn

Nghiên cứu này cho thấy điều trị sóng xung kích có thể cải thiện ĐTN và chức năng tim ở một số bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp này không phải là đồng đều ở tất cả các bệnh nhân. Cần có thêm nghiên cứu để xác định các yếu tố dự đoán khả năng đáp ứng với điều trị.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Liệu Pháp Sóng Xung Kích

Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc xác định các yếu tố dự đoán khả năng đáp ứng với liệu pháp sóng xung kích và đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp này. Ngoài ra, cần có thêm nghiên cứu để tối ưu hóa thông số kỹ thuật của phương pháp điều trị và xác định các chỉ định phù hợp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

04/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị sóng xung kích ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. BỆNH THIẾU MÁU CƠ TIM CỤC BỘ MẠN TÍNH 1. Khái niệm Bệnh TMCTCBMT là một trong số thuật ngữ được thống nhất sử dụng để nói về một tình trạng bệnh ĐMV. Nó còn có một số tên gọi khác như đau thắt ngực ổn định (ĐTNÔĐ), bệnh ĐMV ổn định, suy vành.

Nhưng từ năm 2019 đến nay ESC, Trường môn Tim mạch Hoa Kỳ/Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC/AHA) đồng thuận sử dụng thuật ngữ “Chronic coronary syndrome” và Hội Tim mạch học Việt Nam cũng chấp thuận gọi là hội chứng mạch vành mạn tính (HCVM). HCVM ra đời dựa trên cơ sở lập luận bệnh ĐMV là hiện tượng liên tục bao gồm tích tụ và phát triển mảng xơ vữa trong thành mạch và có các giai đoạn tiến triển khác nhau. Danh pháp HCVM là giai đoạn mạn tính ngay từ bắt đầu hoặc tiếp tục sau HCVC. Vì vậy, trong phạm vi đề tài này chúng tôi xin sử dụng danh pháp HCVM để phù hợp với thông lệ chuyên ngành tim mạch quốc tế.

HCVM là một tập hợp các bệnh cảnh lâm sàng: (1) Bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh ĐMV và đau thắt ngực ổn định có hoặc không khó thở, (2) Bệnh nhân mới xuất hiện triệu chứng suy tim hoặc rối loạn chức năng thất trái nghi do bệnh ĐMV, (3) Bệnh nhân có triệu chứng ổn định (kể cả có hoặc không có triệu chứng) trong vòng 01 năm sau HCVC hoặc sau tái tưới máu mạch vành lần gần nhất, (4) Bệnh nhân sau chẩn đoán lần đầu hoặc tái tưới máu mạch vành > 01 năm có hoặc không có triệu chứng, (5) Bệnh nhân đau ngực không do hẹp ĐMV nghi ngờ do co thắt hoặc bệnh vi mạch vành, (6) Bệnh nhân không triệu chứng phát hiện bệnh ĐMV qua tầm soát [87]. Các khuyến cáo điều trị bệnh nhân ĐTN ổn định của ACC/AHA có ý áp dụng cho người bệnh có hội chứng đau ngực ổn định do mắc hoặc nghi 4 ngờ có bệnh TMCTCBMT [134] và nhấn mạnh triệu chứng ĐTN là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán lâm sàng. Dựa trên cơ sở này, một nhóm tác giả Châu Âu chuyên nghiên cứu ĐTN kháng trị (The Joint Study Group) đưa ra định nghĩa về “ĐTN kháng trị” là một tình trạng mạn tính gây ra bởi cơn ĐTN do bệnh ĐMV mà không kiểm soát được bằng kết hợp điều trị nội khoa, can thiệp vành qua da (PCI) và phẫu thuật bắc cầu (CABG), có chứng cớ TMCT trên lâm sàng và triệu chứng ĐTN ổn định kéo dài ≥ 3 tháng [101]. Tỷ lệ ĐTN kháng trị ở BN HCVM chưa có một thống kê quần thể nào mà chỉ là ước tính trong các nghiên cứu trên thế giới.

Số liệu thống kê của EuroHeart Survey trên 4.409 BN xác định bệnh hẹp ĐMV bằng chụp cản quang qua da cho thấy 14% số BN không đủ tiêu chuẩn tái thông ĐMV, số liệu của bệnh viện Cleveland ở Mỹ là 11,4%, của Minneapolis là 6,9% mặc dù đã điều trị nội khoa tối ưu và các BN trên đều nằm trong số ĐTN kháng trị. Một nghiên cứu ở Canada ước tính riêng ở Bắc Mỹ có 1,8 triệu người có thể mắc ĐTN kháng trị [72]. và CS với tỷ lệ 5 - 15% ĐTN kháng trị thì số lượng tuyệt đối ở Châu Âu là 30.000 BN và ở Hoa Kỳ là 50. Tại Việt Nam đến nay chưa có số lượng thống kê cụ thể về ĐTN kháng trị.

Cơ chế bệnh sinh đau thắt ngực kháng trị trong HCVM Cơ chế chính của ĐTN do TMCT ở bệnh nhân HCVM là do mất cân bằng giữa cung - cầu ôxy (còn gọi là ngưỡng thiếu máu), nói chung do hẹp ĐMV tới hạn bởi vữa xơ động mạch (VXĐM) là chủ yếu, dẫn tới kích hoạt các sợi thụ cảm ở tổ chức, truyền dẫn các tín hiệu về thần kinh trung ương tạo ra nhận cảm giác đau tim [2]. Hẹp ĐMV đến mức tới hạn (hẹp ≥ 50% nhánh chính ĐMV trái hoặc hẹp ≥ 70% một hoặc ba nhánh chính khác) gây giảm tưới máu cơ tim dẫn tới cơn ĐTN trên lâm sàng. Khác với HCVC, đặc điểm mảng vữa xơ của ĐMV 5 trong đau thắt ngực ổn định là mảng vữa xơ có vỏ xơ vững chắc, lõi lipid ít đại thực bào, nhiều tế bào cơ trơn xâm lấn hơn, nên khó nứt loét, thường gây hẹp lòng ĐMV không đồng tâm [13]. Các nguyên nhân gây thiếu máu cục bộ cơ tim Hệ tuần hoàn ĐMV được chia làm 3 phần có cấu trúc giải phẫu và chức năng khác nhau: phần ĐMV thượng mạc (đường kính 5mm - 500m) có chức năng như một ống dẫn và trở kháng không đáng kể, nhận máu từ ĐMC ở cuối thì tâm trương; phần ĐMV tiền mao mạch (đường kính từ 500m - 200m) là thành phần trong vi tuần hoàn và chịu trách nhiệm hơn 25% tổng trở kháng của ĐMV, đáp ứng với sức căng thành mạch qua cơ chế phụ thuộc nội mạc mạch để giữ áp lực trong lòng mạch; phần ĐMV mao mạch là thành phần trong cơ tim của hệ vi tuần hoàn vành (kích thước < 200m - 40m) và chiếm hơn 50% tổng trở kháng của ĐMV, chức năng là cung cấp máu cơ tim và tiêu thụ ôxy tại chỗ [44].

Như vậy, hệ vi tuần hoàn vành chịu trách nhiệm nhiều nhất sức cản mạch máu của tim và phân bố máu theo nhu cầu ô-xy cơ tim. Nhiều cơ chế khác nhau cho phép vi tuần hoàn vành điều chỉnh tưới máu cơ tim theo nhu cầu chuyển hóa cơ tim khác nhau [44]. Theo định luật Poiseuille tốc độ dòng chảy sẽ giảm theo hàm số mũ bởi bất kỳ thay đổi nào trong đường kính lòng mạch. Khi đường kính lòng mạch giảm đi 1/5 thì tốc độ dòng chảy giảm đi 1/2.

ĐTN trong HCVM có thể xảy ra do tăng nhu cầu ôxy cơ tim (gắng sức, căng thẳng cảm xúc, tăng trương lực giao cảm và giảm hoạt 6 động phế vị, sốt, nhịp tim nhanh, cơn THA. Ngược lại, ĐTN có thể xảy ra do giảm cung cấp ôxy điển hình trong hẹp ĐMV thượng tâm mạc do VXĐM. Tuy nhiên, 90% áp lực mạch máu bị suy giảm trong hệ tuần hoàn vành bình thường xuất hiện ở giữa tiền mao động mạch và tĩnh mạch vành. Lưu lượng máu tối đa đến một vùng nhất định của cơ tim (áp lực máu dẫn đến chỗ đó) là kết quả của tình trạng cấu trúc giải phẫu và chức năng ĐMV thượng tâm mạc, bởi tính toàn vẹn cấu trúc giải phẫu và chức năng của cả mạng vi mạch vành [59].

Có nhiều bằng chứng cho thấy rối loạn vi tuần hoàn vành với tỷ lệ lưu hành cao ở cả BN nghi ngờ mắc bệnh ĐMV không có hẹp (50 - 60%) và có hẹp (39%) [39]. ĐTN ở những BN này gọi là ĐTN vi mạch, hay xảy ra trong các bệnh ĐTĐ, THA, hội chứng chuyển hóa (HCCH) và bệnh hệ thống (lupus ban đỏ hệ thống, viêm nốt động mạch). Sinh bệnh học của rối loạn chức năng vi tuần hoàn vành (coronary microvascular dysfunction) đóng góp một phần vào ĐTN kháng trị ở BN HCVM. Thứ nhất, rối loạn chức năng nội mạc mạch do đáp ứng viêm mức độ thấp với các YTNC tim mạch làm giảm khả năng sinh khả dụng NO, dẫn đến suy yếu chức năng vận mạch phụ thuộc và không phụ thuộc nội mạc mạch của hệ vi tuần hoàn vành [109].

Có tác động qua lại giữa tế bào nội mạc mạch và sức căng thành mạch (wall shear stress). Sức căng thành mạch thấp gây ra viêm và các yếu tố vữa xơ đi qua làm giảm sản xuất NO của nội mạc mạch [151]. Hậu quả là suy yếu chức năng giãn mạch, đồng thời cũng giải phóng ra một số chất co mạch (endothelin, prostaglandin và thromboxan) gây ra đáp ứng vận mạch bị đảo ngược từ giãn sang co thắt làm giảm lưu lượng máu [156]. Một nghiên cứu cho thấy ở 50% BN ĐTN khi gắng sức không có hẹp ĐMV trên hình ảnh chụp cản quang qua da, 2/3 trong số này khi thực hiện tiêm tĩnh mạch acetylcholin xuất hiện co thắt hệ vi tuần hoàn vành gây ĐTN do rối loạn chức năng vi mạch vành [124].

Bất thường chức năng vi mạch vành có tính liên tục 7 ở tầng vi mạch kết hợp với biến đổi cấu trúc hẹp lòng mạch do tái cấu trúc các mao động mạch trong cơ tim (quá trình tiền tăng sinh) cùng vi huyết khối sau vỡ mảng vữa xơ tự nhiên hoặc trong khi PCI làm thưa bớt các vi mạch [95], theo đó, giảm mật độ mạch máu trên một đơn vị vùng và tiến triển rối loạn chức năng hệ vi tuần hoàn vành [69]. Thứ hai, hệ thần kinh tự động tim cũng liên quan đến bệnh sinh ĐTN. Ở người có hệ ĐMV bình thường, thần kinh giao cảm và phó giao cảm có thể điều chỉnh trương lực ĐMV bằng tác động trực tiếp trên các tế bào cơ trơn hoặc kích thích giải phóng NO từ nội mạc mạch máu. Ở BN có VXĐM vành, đáp ứng giãn mạch bị suy giảm hoặc gây ra co thắt ĐMV thượng tâm mạc và vi mạch vành.

Trong khi nghỉ, thần kinh giao cảm kiểm soát trương lực vận mạch là không đáng kể và phụ thuộc vào cân bằng giữa giãn mạch qua thụ thể giao cảm  và co mạch (có giới hạn) qua thu thể giao cảm . Trong khi gắng sức, trương lực mạch vành được điều tiết bằng kích hoạt giao cảm giải phóng ra norepinephrin và epinephrin vào tuần hoàn vành. Các thụ thể giao cảm  (chủ yếu là 2) góp phần làm giãn mạch vành để bù lại cho tăng tiêu thụ ôxy cơ tim [58]. Khi tuần hoàn vành suy yếu bởi rối loạn chức năng nội mạc mạch do vữa xơ, co mạch qua trung gian thụ thể giao cảm 1 có trương lực lớn hơn làm giảm lưu lượng máu và có thể dẫn đến TMCT [68].

Rối loạn co thắt ĐMV (cả thượng tâm mạc và vi mạch) xảy ra ở 37% BN ĐTN không có hẹp ĐMV [48], [52]. Đau thụ cảm tim là sự gặp gỡ giữa tim và não bộ. Một kích thích đau ngoại vi được dẫn truyền qua các thần kinh giao cảm hướng tâm có sợi trục nhận cảm nằm trong các nút và hạch rễ lưng ở tim, rồi cơ bản qua các bó tủy sống - đồi thị và các con đường đau trung tâm tới vùng sau của đồi thị. Một số đáng kể các sợi thần kinh phế vị kết nối với nhân của bó đơn độc hành não và từ đó đến vùng sau đồi thị cũng liên quan đến dẫn truyền hướng tâm của kích thích đau [28].

Các chất được phóng thích sau TMCT (adenosin, bradykinin, histamin, K+, prostaglandin và 8 chất P) gây kích thích các điện thế hoạt động của các sợi thần kinh nhạy cảm hóa học trong truyền dẫn thụ thể đau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Điều Trị Sóng Xung Kích Cho Bệnh Nhân Thiếu Máu Cơ Tim Cục Bộ Mạn Tính: Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị sóng xung kích cho bệnh nhân mắc bệnh thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mà còn nêu rõ những lợi ích của phương pháp điều trị này, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm thiểu triệu chứng cho người bệnh. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức điều trị hiện đại, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn hoặc nghiên cứu thêm.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đoàn kết quốc tế trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để phục hồi và phát triển nền kinh tế ở việt nam từ sau đại dịch covid 19 đến nay, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về các chiến lược phục hồi kinh tế trong bối cảnh y tế. Ngoài ra, tài liệu Hoàn thiện hoạt động bán hàng tại công ty cổ phần 5s fashion cũng có thể cung cấp những góc nhìn thú vị về quản lý và phát triển trong lĩnh vực kinh doanh, liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, tài liệu Ứng dụng quan hệ thứ tự và bậc tôpô trong nghiên cứu một số lớp bao hàm thức sẽ giúp bạn khám phá thêm về các phương pháp nghiên cứu khoa học, có thể áp dụng trong lĩnh vực y tế và điều trị.