đặt vấn đề, sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Mặc khác tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu mình sẽ sử dụng cũng như những ưu và nhược điểm của đề tài nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về một số khái niệm liên quan 2.
Giới thiệu về TikTok Theo (Wikipedia, 2023) TikTok hay còn có tên gọi khác là Douyin ở thị trường Trung Quốc, được ByteDance ra mắt tại Bắc Kinh, Trung Quốc vào tháng 9 năm 2016, tên ban đầu của ứng dụng là A.me, sau đó đổi tên thành Douyin vào tháng 12 năm 2016. Trong vòng 1 năm kể từ khi được ra mắt, nền tảng video ngắn đã có 100 triệu người dùng, với hơn một tỷ lượt xem video mỗi ngày. Vào tháng 9 năm 2021, TikTok thông báo rằng nền tảng này đã đạt mốc 1 tỷ người dùng với khoản doanh thu từ quảng cáo là khoảng 4 tỷ USD. Số người sử dụng TikTok ngày một tăng cao và phổ biến trên toàn thế giới.
TikTok là mạng xã hội video ngắn (Short-form Video Social Networks) thuộc ByteDance, là một công ty công nghệ internet đa quốc gia có trụ sở chính tại Bắc Kinh, thủ đô của Trung Quốc. TikTok là nền tảng giải trí thông qua các đoạn video ngắn dành cho đối tượng chính là Gen Z, nó hộ trợ cho người dùng có thể chia sẻ những video một cách tiện lợi nhất. Hiện tại TikTok được coi là một trong số nền tảng mạng xã hội được giới trẻ đặc biệt quan tâm và yêu. Tại Việt Nam, TikTok là ứng dụng có mức tăng trưởng tốt nhất khi tỷ lệ người dùng đang sử dụng tăng từ 49% lên 62%.
Lượng người dùng ứng dụng này hàng ngày là 74%, tăng lên 8% so với trước đó. Mức độ yêu thích của TikTok tăng lên mạnh, từ 5% lên 14%, tương đương với mức độ phổ biến tăng lên thời gian qua. Người dùng TikTok tập trung cao ở độ tuổi từ 18 – dưới 30 tuổi. Đây là một dấu hiệu rõ ràng rằng TikTok là một công cụ kinh doanh quan trọng đối với doanh nghiệp.
Khái niệm về KOLs Theo (Carpenter và Sherbino, 2010; Couët et al., 2015) “KOLs (Key Opinion Leaders) là những người có ảnh hưởng đến một cộng đồng cụ thể như các chuyên gia trong một lĩnh vực cụ thể và thường chia sẻ kinh nghiệm thực tế của họ trên mạng xã hội”. Thông qua sự am hiểu hay chia sẻ của mình, họ được nhiều người yêu mến và 9 tin tưởng. Bắt được xu hướng này, một số công ty có xu hướng sử dụng KOLs, vốn không nổi tiếng như người nổi tiếng, để quảng bá thương hiệu của họ. Mặc dù KOLs trực tuyến không có nhiều người theo dõi như những người nổi tiếng trong showbiz nhưng vẫn có ảnh hưởng không nhỏ đến ý định và thói quen lựa chọn dịch vụ, sản phẩm.
Người tiêu dùng dường như xem qua các đánh giá và nhận xét trải nghiệm của những clip được chứng thực này trước khi quyết định mua hoặc tiêu dùng bất kỳ sản phẩm nào. Mô hình sử dụng KOLs trên TikTok để quảng bá thương hiệu, sản phẩm này đã tạo ra một hướng tiếp thị mới cho các công ty FvàB tại Việt Nam. Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế nhất định xuất phát từ chất lượng và danh tiếng của KOL hay nguy cơ đánh giá của KOL về chất lượng sản phẩm có thể ảnh hưởng đến liên tưởng thương hiệu và gợi nhớ thương hiệu. Ngoài ra, tiếp thị KOLs là một phương tiện tiếp thị phổ biến trong tiếp thị mạng lưới, nhận ra giá trị thương mại thông qua sự phụ thuộc cảm xúc của người hâm mộ vào KOLs, xu hướng giới thiệu sản phẩm có ảnh hưởng có thể đo lường được đến ý định mua hàng của người dùng.
Có thể thấy những đánh giá của KOLs luôn đóng một vị trí đặc biệt cần thiết đến ý định mua mỹ phẩm của cộng đồng nói chung và của sinh viên nói riêng của cộng đồng. Đứng từ góc độ của những người kinh doanh mỹ phẩm khi nhận được những đánh giá từ các KOLs thì họ có thể lắng nghe và cải thiện để sản phẩm của mình được hoàn hảo hơn, tiếp cận nhiều hơn với khách hàng. Đặc biệt, Chen và cộng sự nghiên cứu việc lựa chọn và lập kế hoạch cho các KOLs trong quảng bá quảng cáo và phân tích hiệu quả quảng bá của nó theo sự thay đổi của khán giả nhấp vào liên kết video quảng cáo theo thời gian và cuối cùng đặt chuyển tiếp các đề xuất quản lý tương ứng. Nghiên cứu cho thấy KOLs có ảnh hưởngtích cực đến hiệu quả xúc tiến cuối cùng.
Tiếp thị thông qua người có ảnh hưởng Những NCAH được định nghĩa là những người hướng dẫn các quyết định mua hàng của cá nhân trong khuôn khổ một danh mục sản phẩm cụ thể. Trong các nghiên cứu, người ta cho rằng những NCAH sáng tạo, sôi nổi hoạt động xã hội, sử dụng 10 mạnh mẽ và hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, có sự quan tâm và trải nghiệm cao hơn đối với sản phẩm và có KT chuyên môn về lĩnh vực này. Nói cách khác, NCAH là trung gian mang thương hiệu đến với một nhóm mục tiêu cụ thể. Ngoài đối tượng người tiêu dùng mục tiêu bị ảnh hưởngbởi nội dung do những NCAH tạo ra, nó còn định hướng môi trường của những người tiêu dùng đó đối với chính mình.
Ngày nay, những NCAH sản xuất nội dung và chia sẻ các sản phẩm hoặc dịch vụ được khai thác trong nội dung đó với những người theo dõi họ. Người có ảnh hưởng có ảnh hưởngtích cực đến cái nhìn của người tiêu dùng về thương hiệu và sản phẩm, có vai trò dẫn dắt, gợi ý và ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng”. Lựa chọn mua mỹ phẩm Trong quan điểm tiêu chuẩn, sự lựa chọn đúng đắn được định nghĩa là quá trình nhận thức được những tùy chọn nào có sẵn và sau đó lựa chọn tùy chọn ưa thích nhất theo một tiêu chí nhất quán (Levin và Milgrom, 2004). Sựu lựa chọn được xem là đúng đắn khi trong quá trình lựa chọn người chọn ưu tiên nó hơn nó hơn lựa chọn khác mà vẫn đảm bảo sở thích của họ vẫn còn nguyên vẹn trong quá trình đánh giá.
Lý thuyết lựa chọn chấp nhận rằng những quyết định và hành động mà mỗi cá nhân thực hiện đóng vai trò quan trọng trong việc xác định và định hình cuộc sống của mỗi người. Hành vi lựa chọn của chúng ta được thúc đẩy bởi năm nhu cầu do di truyền điều khiển theo thứ bậc: sinh tồn, tình yêu, quyền lực, tự do và niềm vui (Wikipedia, 2023). Đồng thời việc lựa chọn mua mỹ phẩm cũng là một quá trình rất quan trọng trong việc làm đẹp của mỗi cá nhân. Là khi mà cá nhân quyết định mua loại mỹ phẩm nào để có thể giúp mình đẹp hơn mỗi ngày.
Sự lựa chọn này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như nhu cầu, số tiền họ có thể chi trả,. và đặc biệt cũng như là yếu 11 tố quyết định đó là sự nhận xét của những đối tượng sử dụng từng trải nghiệm loại mỹ phẩm đó. Tổng quan về hành vi của người tiêu dùng 2. Hành vi người tiêu dùng Hành vi của người tiêu dùng là hành động, quyết định và tư duy của khách hàng khi tìm kiếm, lựa chọn, hoặc sử dụng dịch vụ.
Nói theo cách khác, hành vi tiêu dùng là quá trình khách hàng đưa ra quyết định mua hoặc không mua, chọn sản phẩm hay thương hiệu nào phù hợp, tìm kiếm thông tin về sản phẩm, so sánh giá cả và chất lượng, đánh giá đánh giá sự hài lòng sau khi mua hàng và quyết định có tiêu thụ tiếp hay không(Hành vi người tiêu dùng: Ví dụ, mô hình, các yếu tố ảnh hưởng, 2023). Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ “hành vi người tiêu dùng là những suy nghĩ, cảm nhận và những hành động mà khách hàng thực hiện trong quá trình tiêu dùng”. Các yếu tố như ý kiến từ người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, và bề ngoài sản phẩm có thể ảnh hưởng đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi mua sắm của khách hàng (tcct, 2021). các nhận định về hành vi người tiêu dùng tập trung chủ yếu vào các khía cạnh của quá trình nhận biết, tìm kiếm thông tin, đánh giá mua hàng, phản ứng sau mua của người tiêu dùng và mối quan hệ tương tác giữa các giai đoạn này với các yếu tố bên ngoài, có ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp, vào quá trình này.
Hành vi tiêu dùng là hoạt động của một cá nhân khi mua và sử dụng sản phẩm cũng như dịch vụ, bao gồm cả các khía cạnh tâm lý và xã hội trước và sau khi thực hiện hành động này.Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Thứ nhất, văn hóa ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng thông qua các yếu tố điển hình như như tôn giáo, chủng tộc và địa lý. Lựa chọn tiêu dùng phản ánh giá trị văn hóa mà người tiêu dùng đang theo đuổi. Tầng lớp xã hội đóng vai trò quan trọng với các đặc điểm như trình độ văn hóa, nghề nghiệp và giá trị chung. Mỗi người có địa vị xã hội khác nhau, tuy nhiên, điều này có thể thay đổi.
12 Thứ hai, nhóm, địa vị xã hội và gia đình cũng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng. Mối quan hệ với người thân, bạn bè, hàng xóm và đồng đội có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián đến thái độ và hành vi tiêu dùng của cá nhân. Thứ ba: tuổi tác, giai đoạn sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế và tính cách đều ảnh hưởng lớn đến hành vi mua hàng. Những yếu tố này ảnh hưởngđến nhu cầu, khả năng tài chính và lựa chọn sản phẩm tiêu dùng.
Thứ tư, động cơ, nhận thức và niềm tin cũng ảnh hưởng đến hành vi mua hàng. Mỗi người đều có những nhu cầu không giống nhau và hành động để thỏa mãn chúng. Sự hiểu biết và lòng tin của khách hàng được thể hiện qua hành vi tiêu dùng. Ý định mua của người tiêu dùng Theo (Meskaran, Ismail và Shanmugam, 2013) “có thể thấy trong thời đại công nghệ tiến bộ như hiện nay như hiện nay thì để một người đưa ra ý định sử dụng dịch vụ cũng như ý định mua hàng trực tuyến là tiền đề để khách quyết định mua sản phẩm đó”.
Ý định sử dụng dịch vụ được coi là thước đo cường độ sử dụng một sản phẩm (TikTok) của một người. Ý định mua sản phẩm trực tuyến là khi khách hàng đã có sự tìm hiểu về các sản phẩm và họ sẵn lòng mua.