Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực y tế đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và quyết định trực tiếp đến mức độ hài lòng của cộng đồng. Tại Việt Nam, hệ thống y học cổ truyền đang từng bước khẳng định vị thế quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tuy nhiên, theo số liệu từ Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền trực thuộc Bộ Y tế, dù 92% bệnh viện đa khoa trên toàn quốc đã thành lập khoa y học cổ truyền và 85% trạm y tế tuyến xã triển khai khám chữa bệnh bằng đông y, tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn khám ngoại trú bằng y học cổ truyền trong cả nước chỉ đạt khoảng 6%, và tỷ lệ áp dụng các biện pháp đông y nói chung dừng lại ở mức khiêm tốn 9,5%.

Thực trạng này phản ánh khoảng cách đáng kể giữa định hướng chính sách và năng lực đáp ứng thực tế tại tuyến y tế cơ sở. Nhằm hiện thực hóa Quyết định số 1893/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội với mục tiêu đến năm 2025 đạt tỷ lệ 25% người bệnh tuyến huyện được khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền, việc đánh giá thực trạng nguồn nhân lực song hành với nhu cầu người bệnh là yêu cầu cấp thiết.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học cổ truyền của tác giả Nguyễn Đình Vũ, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Đoàn Quang Huy tại Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, tập trung giải quyết vấn đề trên tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội từ tháng 03/2021 đến tháng 09/2021. Đề tài hướng tới hai mục tiêu trọng tâm: đánh giá thực trạng cơ cấu, trình độ và năng lực thực hành của 18 cán bộ y tế khoa Y học cổ truyền, đồng thời khảo sát nhu cầu sử dụng và mức độ hài lòng của 400 người bệnh điều trị tại viện. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giá trị, hỗ trợ các nhà quản lý y tế xây dựng chính sách tuyển dụng, đào tạo và phân bổ nguồn lực nhằm tối ưu hóa hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn được xây dựng dựa trên nền tảng khung lý thuyết quản lý nguồn nhân lực y tế theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) kết hợp với mô hình đo lường chất lượng dịch vụ và sự hài lòng SERVQUAL do Parasuraman đề xuất. Theo khung lý thuyết của WHO, nguồn nhân lực y tế bao gồm toàn bộ nhân viên tham gia vào các hoạt động bảo vệ, nâng cao sức khỏe, được đo lường qua số lượng, cơ cấu trình độ, thâm niên và năng lực chuyên môn thực tế. Nghiên cứu đồng thời vận dụng Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định về định mức biên chế sự nghiệp y tế, trong đó xác lập tỷ lệ chuẩn cho khối lâm sàng từ 60% đến 65% và tỷ lệ bác sĩ trên các chức danh chuyên môn y tế khác ở mức từ 1/3 đến 1/3,5.

Song song với đó, nghiên cứu tiếp cận lý thuyết hành vi người tiêu dùng dịch vụ y tế của Kotler và Oliver, xác định sự hài lòng của người bệnh là hàm số của khoảng cách giữa kỳ vọng ban đầu và trải nghiệm thực tế nhận được. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Nguồn nhân lực y tế cơ sở, Y học cổ truyền kết hợp Y học hiện đại, Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu và Mức độ hài lòng của người bệnh nội ngoại trú.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp thu thập định lượng và đánh giá hồ sơ năng lực chuyên môn:

  • Cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên 2 nhóm đối tượng. Nhóm thứ nhất gồm toàn bộ 18 cán bộ y tế đang công tác tại khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng. Nhóm thứ hai gồm 400 người bệnh từ 18 tuổi trở lên đang điều trị tại bệnh viện. Cỡ mẫu người bệnh được xác định dựa trên công thức ước lượng một tỷ lệ trong dịch tễ học với mức ý nghĩa thống kê 0,05, hệ số tin cậy 95% (tương ứng Z = 1,96) và khoảng sai lệch cho phép d = 0,05, cho ra quy mô mẫu tối thiểu 378 người và được mở rộng lên 400 người để đảm bảo tính đại diện cao.
  • Phương pháp chọn mẫu: Đối với cán bộ y tế, nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu toàn bộ theo danh sách viên chức hiện hữu. Đối với người bệnh, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được triển khai liên tục trong khung thời gian từ ngày 01/03/2021 đến ngày 30/09/2021.
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu: Dữ liệu được thu thập qua phiếu phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt và trích xuất hồ sơ chuyên môn. Toàn bộ thông tin được nhập 2 lần độc lập bằng phần mềm Epidata phiên bản 3.0 nhằm kiểm soát và loại trừ triệt để sai số nhập liệu, sau đó được phân tích trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Lý do lựa chọn SPSS là nhằm tối ưu hóa việc phân tích tần số, tính toán tỷ lệ phần trăm và kiểm định giá trị p giữa các biến số nhân khẩu học với nhu cầu sử dụng dịch vụ y học cổ truyền.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về thực trạng nhân lực, khoa Y học cổ truyền Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng có quy mô 18 cán bộ y tế, chiếm tỷ lệ khiêm tốn trên tổng số 214 nhân viên y tế toàn bệnh viện. Cơ cấu trình độ cho thấy sự thiếu hụt nhân lực trình độ cao: Bác sĩ chuyên khoa I có 2 người (chiếm 6,45% tổng số cán bộ sau đại học toàn viện), Bác sĩ đại học có 6 người (chiếm 26,09% tổng số bác sĩ), Kỹ thuật y có 2 người (50%) và Cao đẳng điều dưỡng có 8 người (chiếm 5,8% tổng điều dưỡng). Bệnh viện chưa có Bác sĩ chuyên khoa II hoặc Thạc sĩ y học cổ truyền. Tuổi đời trung bình của nhân viên khoa là 35,17 ± 7,81 tuổi và thâm niên công tác trung bình đạt 12,22 ± 6,48 năm.

Thứ hai, về năng lực chuyên môn, kết quả đánh giá cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các kỹ năng. Kiến thức và kỹ năng thực hành xoa bóp bấm huyệt đạt kết quả xuất sắc với 66,67% cán bộ đạt loại A (12/18 người) và 33,33% đạt loại B, hoàn toàn không có loại C. Kỹ năng châm cứu đạt loại A là 55,56% (10/18 người) và loại B là 44,44%. Ngược lại, kỹ năng kê đơn thuốc và các phương pháp dùng ngoài có tỷ lệ xếp loại C lên tới 44,44% (8/18 người). Đáng chú ý, 100% cán bộ y tế đều đồng thuận với chủ trương đẩy mạnh ứng dụng y học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Thứ ba, về đặc điểm người bệnh và nhu cầu điều trị, trong 400 bệnh nhân tham gia khảo sát (tuổi trung bình 58 ± 13,5 tuổi, dao động từ 22 đến 85 tuổi), nữ giới chiếm đa số với 64,25% (257 người), người trong độ tuổi từ 51 đến 70 tuổi chiếm 48,75% (195 người), đối tượng hưu trí chiếm 42,75% (171 người) và 96,25% bệnh nhân sử dụng bảo hiểm y tế. Tỷ lệ bệnh nhân từng sử dụng y học cổ truyền đạt 84% (336/400 người). Lý do lớn nhất thúc đẩy người bệnh lựa chọn y học cổ truyền là tính an toàn, không có tác dụng không mong muốn (50,89% với 171 người), khả năng dễ uống/dễ tiếp cận (35,42%) và hiệu quả điều trị (31,25%).

Thứ tư, đối với nhóm 16% bệnh nhân (64 người) chưa từng sử dụng y học cổ truyền, nguyên nhân hàng đầu được ghi nhận là cảm thấy bất tiện khi đun sắc sử dụng thuốc (51,6% với 33 người) và tâm lý e ngại tác dụng chậm, lâu khỏi bệnh (32,8% với 21 người).

Thảo luận kết quả

Kết quả phân tích chỉ ra rằng dù nhu cầu điều trị bằng y học cổ truyền của người dân địa phương rất lớn (84%), nguồn nhân lực tại chỗ vẫn chưa đồng bộ về cơ cấu chuyên sâu. Sự chênh lệch giữa kỹ năng châm cứu, bấm huyệt (đều đạt loại A và B) so với kỹ năng kê đơn (loại C chiếm 44,44%) bắt nguồn từ việc cán bộ trẻ ít có điều kiện thực hành chuyên sâu về bài thuốc cổ phương và thiếu các khóa đào tạo liên tục.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương đồng tại khu vực phía Bắc như nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây hay Bệnh viện Tiên Du, tỷ lệ người bệnh cao tuổi (48,75%) và người có bảo hiểm y tế (96,25%) tìm đến đông y luôn chiếm ưu thế vượt trội do tính chất bệnh mãn tính và độ an toàn của dược liệu. Để phục vụ công tác quản trị trực quan, toàn bộ phân bố nhân khẩu học, cơ cấu nghề nghiệp và tỷ lệ rào cản sử dụng thuốc có thể được thể hiện hiệu quả qua biểu đồ cột đôi và biểu đồ tròn phân lớp. Dữ liệu này chứng minh rằng việc hiện đại hóa dạng thuốc và nâng cao năng lực kê đơn là chìa khóa then chốt để thu hút bệnh nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đáp ứng tối đa nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại tuyến huyện, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Đẩy mạnh quy hoạch tuyển dụng và chuẩn hóa đào tạo sau đại học: Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng phối hợp cùng Sở Y tế Hà Nội xây dựng lộ trình cử bác sĩ đi học chuyên khoa I, chuyên khoa II và thạc sĩ Y học cổ truyền. Mục tiêu nâng tỷ lệ bác sĩ có trình độ sau đại học tại khoa từ 6,45% lên mức tối thiểu 20% vào năm 2025, đồng thời tuyển dụng thêm 4 cử nhân điều dưỡng chuyên khoa.
  2. Tổ chức các khóa đào tạo liên tục và tập huấn chuẩn hóa kỹ năng lâm sàng: Phòng Kế hoạch tổng hợp phối hợp với Khoa Y học cổ truyền và Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam triển khai các lớp bồi dưỡng định kỳ hàng quý về lý luận bài thuốc, kỹ năng kê đơn và phương pháp dùng ngoài. Mục tiêu giảm tỷ lệ kỹ năng xếp loại C từ 44,44% xuống dưới 10% trong giai đoạn 2022-2024, đảm bảo 100% nhân viên đạt từ loại B trở lên.
  3. Hiện đại hóa quy trình chế biến và đa dạng hóa dạng bào chế thuốc y học cổ truyền: Khoa Dược phối hợp Khoa Y học cổ truyền đầu tư hệ thống máy sắc thuốc và đóng túi chân không tự động, tăng cường cung ứng thuốc dạng viên hoàn, cao lỏng và trà tan. Giải pháp này nhằm giải quyết triệt để rào cản bất tiện cho 51,6% người bệnh, nâng tỷ lệ hài lòng về tính tiện dụng lên trên 90% trước quý IV/2023.
  4. Mở rộng truyền thông giáo dục sức khỏe và tối ưu hóa thủ tục bảo hiểm y tế: Tổ Công tác xã hội kết hợp cùng các khoa lâm sàng đẩy mạnh truyền thông về lợi ích của đông y trong điều trị bệnh mạn tính, đồng thời rút ngắn thời gian làm thủ tục hành chính. Mục tiêu tăng tỷ lệ tiếp cận y học cổ truyền ở nhóm người bệnh trẻ tuổi dưới 30 tuổi từ 6,25% lên 15% vào năm 2025, duy trì tỷ lệ hài lòng chung trên 95%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Nhà quản lý y tế và Ban Giám đốc các bệnh viện tuyến huyện: Cung cấp bằng chứng thực tế về định mức nhân lực theo Thông tư liên tịch 08/2007/TTLT-BYT-BNV và mô hình tổ chức khoa YHCT. Tài liệu giúp lãnh đạo xây dựng đề án vị trí việc làm, quy hoạch nhân sự và chuẩn bị lộ trình đáp ứng chỉ tiêu khám chữa bệnh đông y đạt 25% theo Quyết định 1893/QĐ-TTg.
  2. Bác sĩ, dược sĩ và kỹ thuật viên chuyên ngành Y học cổ truyền: Giúp nhân viên y tế nhận diện rõ những điểm nghẽn chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng kê đơn (hiện có 44,44% xếp loại C), từ đó có định hướng tự đào tạo, rèn luyện kỹ năng kết hợp Đông - Tây y trong điều trị thực tế.
  3. Giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu y tế công cộng: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách áp dụng công thức tính cỡ mẫu dịch tễ học với 400 bệnh nhân và quy trình làm sạch dữ liệu qua Epidata cùng phân tích thống kê trên SPSS.
  4. Các đơn vị cung ứng dược liệu và doanh nghiệp sản xuất chế phẩm đông dược: Nắm bắt chính xác xu hướng người tiêu dùng với 51,6% người bệnh ngại đun sắc thủ công, từ đó phát triển các dòng sản phẩm đóng gói sẵn tiện lợi, đáp ứng nhu cầu điều trị ngoại trú ngày càng tăng.

Câu hỏi thường gặp

Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng có quy mô nhân lực y học cổ truyền như thế nào?

Khoa Y học cổ truyền của bệnh viện hiện có 18 cán bộ y tế trên tổng số 214 nhân viên toàn viện. Cơ cấu trình độ gồm 2 Bác sĩ chuyên khoa I (chiếm 6,45% cán bộ sau đại học toàn viện), 6 Bác sĩ đại học (26,09%), 2 Kỹ thuật y (50%) và 8 Cao đẳng điều dưỡng (5,8%). Tuổi trung bình của nhân viên là 35,17 tuổi với thâm niên công tác 12,22 năm.

Năng lực chuyên môn của cán bộ y tế khoa Y học cổ truyền được đánh giá ra sao?

Nhân viên y tế có thế mạnh nổi bật về xoa bóp bấm huyệt với 66,67% loại A và châm cứu đạt 55,56% loại A (không có loại C). Tuy nhiên, kỹ năng kê đơn thuốc còn hạn chế khi có 44,44% xếp loại C, đòi hỏi bệnh viện phải khẩn trương tổ chức các chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề lâm sàng.

Nhóm đối tượng người bệnh nào có nhu cầu sử dụng y học cổ truyền nhiều nhất?

Khảo sát trên 400 người bệnh cho thấy nữ giới chiếm đa số với 64,25% (257 người) và nhóm tuổi 51-70 tuổi chiếm 48,75% (195 người). Về nghề nghiệp, nhóm cán bộ hưu trí chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,75% (171 người), và 96,25% bệnh nhân đến khám chữa bệnh có thẻ bảo hiểm y tế.

Đâu là lý do chính thúc đẩy người bệnh lựa chọn điều trị bằng y học cổ truyền?

Trong số 336 bệnh nhân từng sử dụng y học cổ truyền, có tới 50,89% (171 người) lựa chọn nhờ tính an toàn, lành tính và không gây tác dụng phụ. Ngoài ra, 35,42% bệnh nhân đánh giá thuốc dễ uống, 31,25% ghi nhận hiệu quả điều trị rõ rệt và 21,13% lựa chọn vì chi phí hợp lý.

Rào cản lớn nhất đối với những người chưa từng dùng thuốc y học cổ truyền là gì?

Khảo sát trên 64 bệnh nhân chưa từng sử dụng cho thấy 51,6% e ngại sự bất tiện, tốn thời gian trong khâu đun sắc thuốc thủ công tại nhà. Bên cạnh đó, 32,8% bệnh nhân lo ngại thuốc đông y có tác dụng chậm, lâu khỏi bệnh, và 6,2% có tâm lý sợ mua phải dược liệu giả, kém chất lượng.

Kết luận

Tổng kết những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật của luận văn:

  • Khẳng định mạng lưới nhân lực YHCT tại Bệnh viện Đa khoa Đan Phượng gồm 18 cán bộ, sở hữu thâm niên nghề vững vàng (12,22 năm) nhưng còn thiếu hụt chuyên gia sau đại học (mới đạt 6,45%).
  • Đánh giá chuẩn xác năng lực thực hành với 66,67% nhân viên đạt loại A về xoa bóp bấm huyệt, đồng thời chỉ ra điểm nghẽn kỹ năng kê đơn với 44,44% xếp loại C.
  • Xác lập bức tranh nhu cầu thực tế với 84% người dân từng điều trị YHCT, trong đó nữ giới chiếm 64,25% và người cao tuổi từ 51-70 tuổi chiếm 48,75%.
  • Nhận diện yếu tố an toàn (50,89%) là động lực lựa chọn lớn nhất và tính bất tiện khi sắc thuốc (51,6%) là rào cản tiếp cận hàng đầu của người bệnh.
  • Ghi nhận 100% cán bộ y tế đồng thuận phát triển YHCT, tạo tiền đề thúc đẩy đạt chỉ tiêu 25% người bệnh tuyến huyện khám chữa bệnh đông y vào năm 2025.

Luận văn của tác giả Nguyễn Đình Vũ đã đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho công tác quản trị nhân lực y tế cơ sở. Trong lộ trình 2022-2025, bệnh viện cần ưu tiên đào tạo liên tục và hiện đại hóa công nghệ bào chế. Kính mời quý độc giả, nhà quản lý và các đồng nghiệp tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác phát triển y học cổ truyền tại đơn vị.