ĐẶT VẤN ĐỀ Béo phì là tình trạng tăng trọng lượng cơ thể mạn tính do tăng khối lượng mỡ quá mức và không bình thường, liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa [1]. Nghiên cứu toàn cầu về béo phì của tác giả Matthias Blueher công bố năm 2019 cho thấy tỷ lệ béo phì đã tăng gấp 3 lần trong 50 năm vừa qua và đã đạt đến mức “đại dịch” [2], [3]. Béo phì là một gánh nặng lớn với sức khỏe vì nó làm gia tăng đáng kể nguy cơ mắc các bệnh lý rối loạn chuyển hóa, đặc biệt tại các nước đang phát triển [3]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, tính đến năm 2016 khoảng 39% công dân trưởng thành mắc phải chứng thừa cân – béo phì [3].
Nghiên cứu công bố năm 2019 ước tính khoảng 2/3 dân số Hoa Kỳ mắc thừa cân – béo phì và bệnh là một trong 7 nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật hoặc tử vong tại nước này [1], [3]. Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2020) cho thấy có đến 26,8% trẻ em thành thị mắc chứng thừa cân – béo phì, đặc biệt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này lần lượt là 41% và 50% [4]. Cũng theo nghiên cứu này chỉ trong 10 năm tính từ năm 2010 tỷ lệ thừa cân béo phì trong trẻ em đã tăng gấp 2,2 lần, và con số này chưa có chiều hướng giảm [4]. Béo phì là một thách thức lớn đối với sức khỏe bởi vì người mắc béo phì có liên quan rõ ràng với nguy cơ mắc các bệnh như đái tháo đường týp 2, bệnh gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, sa sút trí tuệ, viêm xương khớp, tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ và một số bệnh ung thư, do đó góp phần làm giảm cả hai chất lượng cuộc sống và tuổi thọ [1], [5], [6].
Béo phì còn đi kèm với tình trạng thất nghiệp, gây bất lợi cho xã hội và giảm năng suất kinh tế - xã hội, do đó ngày càng tạo ra gánh nặng kinh tế [1], [7], [8]. Cho đến nay, các chiến lược phòng ngừa và điều trị béo phì – cả ở cấp độ cá nhân và dân số – đã không thành công trong dài hạn [1]. 2 Các can thiệp vào lối sống và hành vi nhằm mục đích giảm lượng calo và tăng tiêu thụ năng lượng có hiệu quả hạn chế bởi vì sự thích nghi của nội tiết tố, chuyển hóa và hóa thần kinh phức tạp và dai dẳng chống lại sự giảm cân và thúc đẩy sự phục hồi cân nặng [1], [9]. Giảm gánh nặng béo phì đòi hỏi các phương pháp tiếp cận kết hợp các can thiệp cá nhân với những thay đổi của môi trường và xã hội [9], [10].
Các thuốc điều trị béo phì dựa trên các tác dụng gây chán ăn, ức chế men lipase làm lipid không được hấp thụ tại đường ruột, tuy nhiên những loại thuốc này có một số tác dụng phụ tác động lên tâm thần, làm gia tăng biến cố tim mạch [11]. Những can thiệp phẫu thuật đặt bóng dạ dày, thu nhỏ dạ dày, phẫu thuật lấy mỡ bụng mang lại tác dụng giảm cân nhanh tuy nhiên phương pháp yêu cầu kỹ thuật cao, tốn kém và nguy hiểm [12]. Ngày nay, trước tình trạng gia tăng nhanh chóng của thừa cân béo phì các giải pháp điều trị thừa cân – béo phì bằng y học cổ truyền ngày càng được quan tâm hơn[13]. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy châm cứu không những có hiệu quả cao trong điều trị thừa cân – béo phì thông qua cơ chế làm giảm kháng insulin, hạ cholesterol toàn phần máu [13] và giảm cảm giác thèm ăn mà còn có tính an toàn cao [14].
Bệnh viện Tuệ Tĩnh đã được biết đến là một đơn vị có uy tín trong điều trị thừa cân – béo phì bằng phương pháp y học cổ truyền, đặc biệt là sử dụng điện châm, tuy nhiên lại chưa được nghiên cứu đánh giá tác dụng một cách khoa học và hệ thống về hiệu quả điều trị thừa cân – béo phì bằng Y học cổ truyền. Do đó, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá tác dụng của điện châm và tư vấn dinh dưỡng trong điều trị giảm béo ở bệnh nhân béo phì” với mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng của điện châm và tư vấn dinh dưỡng trong điều trị giảm béo ở bệnh nhân béo phì độ I, II. Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp trong điều trị giảm béo ở bệnh nhân béo phì độ I, II.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thừa cân béo phì theo Y học hiện đại 1. Khái niệm thừa cân – béo phì Béo phì là tình trạng tăng trọng lượng cơ thể mạn tính do tăng khối lượng mỡ quá mức và không bình thường, liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa, trong đó chủ yếu là quá trình tích lũy mỡ trắng dưới da [1]. Nghiên cứu toàn cầu về béo phì của tác giả Matthias Blueher công bố năm 2019 cho thấy tỷ lệ béo phì đã tăng gấp 3 lần trong 50 năm vừa qua, bệnh không những làm giảm chất lượng cuộc sống mà còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính và tử vong, công trình nghiên cứu cũng đã cung cấp bằng chứng rõ rằng về việc béo phì đã đạt đến mức “đại dịch” [2], [3].
Năm 2015, Tuyên bố Nagoya đã xác định bệnh béo phì là một tình trạng bệnh lý tiến triển mạn tính và cần can thiệp lâm sàng [15], [16]. Tác động của yếu tố môi trường Trong vài thập kỷ vừa qua cùng với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong chế biến và sản xuất lương thực, thực phẩm làm gia tăng đáng kể nguồn cung cấp và tiêu thụ lương thực bình quân đầu người, đặc biệt là các loại thực phẩm có hàm lượng calo cao, hợp khẩu vị thường được phục vụ theo khẩu phần lớn [17]; Thêm vào đó việc giảm thời gian dành cho các hoạt động thể chất nghề nghiệp và gia tăng hoạt động giải trí tại chỗ [18]; Con người ngày càng sử dụng các loại thuốc, thực phẩm chức năng có tác dụng phụ làm tăng cân [19]; Một trong những nguyên nhân quan trọng liên quan đến việc ngủ không đủ giấc cũng làm gia tăng tình trạng thừa cân – béo phì [1]; Giảm tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm và kéo dài tuổi thọ, đã tạo nền tảng cho các dịch bệnh liên quan giữa bệnh mãn tính và béo phì [1]. Tác động của yếu tố di truyền Không phải tất cả những người tiếp xúc với môi trường thành thị và nông thôn đều trở nên béo phì, điều này cho thấy sự tồn tại của các cơ chế di truyền cơ bản hoạt động ở cấp độ cá nhân [20]. Mặc dù các ước tính khác nhau, các nghiên cứu về cặp song sinh, gia đình và nhận con nuôi cho thấy tỷ lệ di truyền của BMI cao, dao động từ 40 đến 70% [21].
Mười một dạng béo phì đơn nguyên hiếm gặp hiện đã được công nhận bao gồm sự thiếu hụt các thụ thể leptin và melanocortin-4, đột biến dị hợp tử ở gen thụ thể melanocortin-4 hiện là nguyên nhân phổ biến nhất gây béo phì đơn gen, xuất hiện 2 - 5% trẻ em bị béo phì nặng [22], [23]. Hơn 300 locus đã được xác định có liên quan đến béo phì những locus này chỉ chiếm ít hơn 5% sự thay đổi cá thể của chỉ số BMI và tính trạng mỡ [22]. Những thay đổi trong quá trình phiên mã và dịch mã gen do ảnh hưởng của môi trường có thể xảy ra mà không có những thay đổi trong trình tự nucleotide DNA [24]. Điều hòa cân bằng năng lượng Gen và môi trường tương tác trong một hệ thống phức tạp điều chỉnh sự cân bằng năng lượng có liên quan trực tiếp đến trọng lượng cơ thể [22], [23].
Cân bằng năng lượng ngắn hạn và dài hạn được kiểm soát thông qua một mạng lưới phối hợp các cơ chế trung tâm và tín hiệu ngoại vi phát sinh từ hệ vi sinh vật của cơ thể và các mô mỡ, dạ dày, tuyến tụy và các cơ quan khác [23]. Vùng dưới đồi đóng góp vào việc điều chỉnh cân bằng năng lượng thông qua đầu vào tín hiệu cảm giác, quá trình nhận thức, tác động khoái lạc của việc tiêu thụ thức ăn, trí nhớ và sự chú ý [23]. Giảm lượng thức ăn hoặc tăng hoạt động thể chất dẫn đến sự cân bằng năng lượng tiêu cực và một loạt các cơ chế thích ứng bù trừ ở trung tâm và ngoại vi để bảo tồn các chức năng quan trọng [25]. Nhìn về mặt lâm sàng, 5 những tác động này có thể liên quan đến việc giảm tương đối tiêu hao năng lượng khi nghỉ ngơi, mức độ lo lắng đến thức ăn và tâm lý khác phụ thuộc vào mức độ và thời gian hạn chế calo [26], [27].
Những hiệu ứng chuyển hóa và sinh lý được thiết lập tốt xuất hiện trong quá trình giảm cân có thể được duy trì ở trạng thái giảm cân [25], [26]. Tỷ lệ tái phát cao phù hợp với quan điểm này và phù hợp với khái niệm béo phì là một bệnh mãn tính cần cảnh giác lâu dài và quản lý cân nặng [20]. Đặc điểm sinh lý bệnh 1. Hiệu ứng giải phẫu Tình trạng mỡ thừa thường tiến triển chậm theo thời gian, với sự dư thừa lượng trong thời gian dài [20].
Sự tích tụ lipid, chủ yếu là chất béo trung tính, trong mô mỡ xảy ra cùng với sự gia tăng thể tích ở cơ xương, gan, và các cơ quan và mô khác; trọng lượng dư thừa gây tăng trọng lượng cơ thể [29]. Người béo phì có cân nặng ổn định, so với người không thừa cân hoặc béo phì, do đó có khối lượng mỡ và cơ lớn hơn, cùng với việc tiêu hao năng lượng khi nghỉ ngơi, cung lượng tim và huyết áp cao hơn và khối lượng tế bào β tuyến tụy lớn hơn [29], [30]. Sự bài tiết insulin ở trạng thái đói và sau khi nạp glucose sẽ tăng tuyến tính với chỉ số BMI [1]. Với sự tăng cân theo thời gian, lipid dư thừa được phân phối đến nhiều ngăn cơ thể, nhưng chủ yếu mỡ của cơ thể được tích lũy dưới da [1].
Hầu hết các tế bào mỡ trong mô mỡ dưới da có màu trắng, do chất béo trung tính được dự trữ; Một lượng tương đối nhỏ và có thể thay đổi của các tế bào mỡ màu nâu và màu be sinh nhiệt cũng có ở người lớn [31]. Béo phì đi kèm với sự gia tăng đại thực bào và các tế bào miễn dịch khác trong mô mỡ, một phần là do quá trình tái tạo mô để phản ứng với quá trình chết của tế bào mỡ [32].