Tổng quan nghiên cứu

Hàng năm, ngành công nghiệp chế biến rau quả tại Việt Nam thải ra hàng ngàn tấn phụ phẩm giàu hoạt chất sinh học, trong đó bã cà chua chiếm từ 10% đến 30% tổng khối lượng nguyên liệu tươi nhưng hầu như bị loại bỏ gây lãng phí lớn và ô nhiễm môi trường. Song song với đó, nhu cầu sử dụng thực phẩm tươi sống như thịt lợn (chiếm hơn 70% cơ cấu tiêu thụ thịt nội địa) và dầu thực vật nguyên chất ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự suy giảm chất lượng thực phẩm trong quá trình bảo quản do phản ứng oxy hóa chất béo và sự phát triển của vi sinh vật gây thối rữa đang là thách thức kỹ thuật lớn. Việc sử dụng các chất bảo quản tổng hợp như butylated hydroxytoluene (BHT) bị kiểm soát nghiêm ngặt theo Thông tư 27/2012/TT-BYT với giới hạn tối đa 75 mg/kg do những nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe con người. Xuất phát từ thực tế đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công nghệ thực phẩm của tác giả Nguyễn Văn Luân tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành đề tài nghiên cứu khả năng sử dụng chế phẩm lycopene chiết xuất từ bã cà chua trong bảo quản thịt lợn nạc vai và dầu lạc thô. Nghiên cứu được triển khai từ ngày 15/8/2017 đến ngày 12/10/2018 tại Phòng thí nghiệm Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là thu nhận chế phẩm lycopene đạt độ tinh khiết 88%, đánh giá năng lực ức chế vi sinh vật và chống oxy hóa trên thịt ở nhiệt độ bảo quản 5 ± 1°C cùng dầu lạc ở nhiệt độ phòng 25°C. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi vừa tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, vừa kéo dài thời gian bảo quản thịt thêm từ 3 đến 6 ngày và duy trì độ ổn định oxy hóa của dầu lạc tương đương phụ gia BHT ở mức 0,05 g/kg.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng các học thuyết hóa sinh thực phẩm và động học oxy hóa chất béo:

Thứ nhất, lý thuyết về cấu trúc và cơ chế kháng oxy hóa của carotenoid. Lycopene là một hydrocacbon mạch hở chưa bão hòa có công thức phân tử C40H56, cấu tạo từ 8 đơn vị isoprene đối xứng và sở hữu 13 liên kết đôi, trong đó có 11 liên kết đôi liên hợp. Theo công bố khoa học của Di Mascio và cộng sự, lycopene có hệ số chống oxy hóa đạt mức 31, cao vượt trội so với alpha-carotene (hệ số 19) và beta-carotene (hệ số 14). Nhờ mật độ nối đôi liên hợp dày đặc, phân tử lycopene có khả năng bẫy gốc tự do peroxy và dập tắt oxy nguyên tử đơn bội mạnh gấp 2 lần beta-carotene, gấp 10 lần alpha-tocopherol và gấp 100 lần vitamin E.

Thứ hai, cơ chế hư hỏng sinh hóa và tiêu chuẩn chất lượng thịt tươi. Sau giết mổ, quá trình tự phân giải protein dưới tác động của enzyme protease nội tại và hệ vi sinh vật hiếu khí sẽ phân cắt mạch polypeptid, giải phóng các hợp chất bay hơi chứa nitơ mà chủ yếu là ammoniac (NH3). Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7047:2009 quy định ngưỡng ammoniac tối đa cho phép trong thịt bảo quản lạnh là 35 mg/100g, đồng thời TCVN 7046:2009 quy định giới hạn mật độ vi sinh vật hiếu khí tổng số phải dưới 6 log CFU/g.

Thứ ba, cơ chế tự oxy hóa chất béo trong dầu thực vật. Dầu lạc chứa hơn 80% axit béo chưa no như axit oleic (46,8%) và axit linoleic (33,4%). Năng lượng phá vỡ liên kết C-H tại vị trí C-11 của axit linoleic chỉ khoảng 50 kcal/mol, khiến dầu rất dễ bị tấn công bởi oxy tự do để tạo ra các gốc hydroperoxide bậc một đo bằng chỉ số peroxide (PV).

Phương pháp nghiên cứu

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đối với thí nghiệm trên thịt, mẫu thịt nạc vai tươi được lấy trực tiếp ngay sau giết mổ từ Công ty TNHH Thực phẩm Song Đạt theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhằm đảm bảo độ đồng nhất sinh hóa. Khối lượng mẫu cho mỗi công thức là 750g, được thái miếng quy chuẩn 4 x 2 x 0,5 cm, chia thành các phần 150g đựng trong túi màng polyethylene tỷ trọng thấp (LDPE) và bảo quản lạnh ở nhiệt độ 5 ± 1°C. Thí nghiệm bố trí 4 công thức với 3 lần lặp lại độc lập, kiểm tra định kỳ 3 ngày một lần. Đối với thí nghiệm trên dầu lạc, nguồn nguyên liệu là hạt lạc khô Từ Sơn (Bắc Ninh) được ép cơ học trục xoắn thu dầu thô nguyên chất. Cỡ mẫu cho mỗi công thức là 1000 ml dầu đựng trong bình thủy tinh hổ phách sẫm màu có nắp kín, bảo quản phòng tối ở nhiệt độ thường, lấy mẫu phân tích định kỳ 7 và 14 ngày.

Về phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Định lượng hàm lượng ammoniac trong thịt thực hiện theo TCVN 3706:1990 bằng phương pháp chưng cất kiềm nhẹ đẩy NH3 vào axit sulfuric 0,1N rồi chuẩn độ lượng axit dư bằng natri hydroxit 0,1N. Phương pháp này được chọn vì độ chính xác cao và phản ánh trực tiếp độ tươi của đạm động vật. Định lượng chỉ số peroxide của thịt thực hiện theo phương pháp đo quang phổ phức màu sắt thiocyanate tại bước sóng 480 nm của Hoàng Thị Dung (2017) nhằm phát hiện sớm các sản phẩm oxy hóa sơ cấp ở hàm lượng vết. Phân tích tổng số vi sinh vật hiếu khí theo TCVN 7928:2008 trên đĩa thạch PCA ủ ở 30 ± 1°C trong 48 đến 72 giờ. Đo độ axit của dầu lạc theo TCVN 6127:2010 bằng chuẩn độ điện thế hòa tan trong hỗn hợp ethanol và toluene tỷ lệ 1:1; chỉ số peroxide dầu xác định theo chuẩn AOCS Cd 8-53 (2003) qua chuẩn độ iod bằng Na2S2O3 0,01N; và năng lực bắt gốc tự do DPPH đo quang tại bước sóng 515 nm theo quy trình của Romina (2017). Số liệu được xử lý phương sai ANOVA qua phần mềm Minitab 16 ở mức ý nghĩa thống kê 5%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng có giá trị thực tiễn cao:

Thứ nhất, quy trình chiết xuất từ bã cà chua bằng dung môi ethyl acetate tỷ lệ 40:1 ở 55°C trong 120 phút thu được chế phẩm lycopene có chất lượng vượt trội. Hàm lượng lycopene trong chế phẩm sấy đạt 0,88 ± 0,02 mg/mg chất khô, tương ứng độ tinh khiết đạt 88%, độ ẩm 8,61% và khả năng kháng oxy hóa đo được là 0,72 ± 0,01 µmol TE/mg chất khô.

Thứ hai, việc bổ sung lycopene giúp kìm hãm mạnh mẽ sự phân hủy protein trong thịt lợn nạc vai. Đến ngày thứ 12 bảo quản lạnh ở 5 ± 1°C, hàm lượng ammoniac ở mẫu đối chứng CT1 và CT2 lần lượt tăng vọt lên 37,99 mg/100g và 38,72 mg/100g, vượt ngưỡng giới hạn cho phép 35 mg/100g. Trong khi đó, mẫu CT3 (bổ sung 0,1g lycopene/100g thịt) đạt 34,71 mg/100g và mẫu CT4 (bổ sung 0,3g lycopene/100g thịt) chỉ đạt 32,61 mg/100g, thấp hơn đối chứng 14,1% và hoàn toàn nằm trong ngưỡng an toàn.

Thứ ba, lycopene thể hiện khả năng ức chế oxy hóa lipid và ức chế vi sinh vật vượt trội trên mẫu thịt. Chỉ số peroxide ở ngày 12 của mẫu CT4 chỉ ở mức 0,16 meq O2/kg thịt, giảm hơn 90% so với mẫu đối chứng CT1 đạt 1,65 meq O2/kg thịt. Về mật độ vi sinh vật hiếu khí tổng số, sau 6 ngày bảo quản, hai mẫu đối chứng CT1 và CT2 đều vượt ngưỡng an toàn khi đạt lần lượt 6,58 log CFU/g và 6,63 log CFU/g kèm mùi ôi thối. Mẫu CT3 duy trì mức an toàn dưới 6 log CFU/g trong suốt 6 ngày đầu, còn mẫu CT4 kiểm soát tốt mật độ vi sinh vật đến tận ngày thứ 9.

Thứ tư, đối với dầu lạc thô, bổ sung lycopene ở mức 1 g/kg và 2 g/kg giúp duy trì độ axit biến động cực nhỏ dưới 0,05% sau 42 ngày theo dõi, đồng thời duy trì khả năng bẫy gốc tự do DPPH tương đương với chất chống oxy hóa tổng hợp BHT nồng độ 0,05 g/kg.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả kháng oxy hóa và kháng khuẩn vượt bậc của chế phẩm lycopene bắt nguồn từ hệ thống 11 liên kết đôi liên hợp trong cấu trúc phân tử. Khi đưa vào thực phẩm, lycopene nhanh chóng nhường electron để trung hòa các gốc tự do peroxy (ROO•) và các ion kim loại Fe(III), Cu(II), từ đó cắt đứt chuỗi phản ứng peroxy hóa lipid tự do. Đồng thời, dung dịch dầu lycopene tạo một lớp màng kỵ nước bảo vệ bề mặt thịt, làm giảm khả năng tiếp cận của oxy phân tử và ngăn cản sự phát triển của các chủng vi khuẩn hiếu khí ưa lạnh như Pseudomonas và Achromobacter.

Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu của Liana Maria Alda và Romina khi chứng minh lycopene có hoạt tính sinh học bền bỉ hơn hầu hết các sắc tố tự nhiên khác. Trong thực tế phân tích, toàn bộ tiến trình phân hủy đạm, động học tích lũy hydroperoxide và sự gia tăng quần thể vi sinh vật qua các mốc 3, 6, 9, 12 ngày được biểu diễn trực quan thông qua các bảng ma trận số liệu ANOVA hai nhân tố và biểu đồ đường xu hướng chỉ số peroxide, làm nổi bật khoảng cách khác biệt có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy p < 0,05 giữa các công thức xử lý lycopene so với công thức đối chứng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên những phát hiện khoa học từ đề tài, 4 nhóm giải pháp công nghệ cụ thể được đề xuất nhằm chuyển giao vào thực tiễn:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình thu hồi và trích ly hoạt chất từ bã cà chua. Các doanh nghiệp chế biến sốt và nước ép cà chua cần tiến hành sấy bã tươi ngay sau khi tách nước ép bằng tủ sấy đối lưu 70°C nhằm hạ độ ẩm từ 85% xuống dưới 8,61%. Áp dụng công nghệ chiết xuất bằng dung môi thân thiện ethyl acetate với tỷ lệ dung môi trên bã khô là 40:1 ở 55°C trong 120 phút lặp lại 3 lần. Đích đến là duy trì hàm lượng hoạt chất đạt tối thiểu 0,85 mg/mg chất khô và hiệu suất thu hồi trên 90%. Timeline thực hiện trong vòng 3 tháng đầu năm, chủ thể phụ trách là các nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu.

Thứ hai, áp dụng giải pháp tẩm phủ màng dầu lycopene trong bảo quản thịt tươi sơ chế. Các cơ sở giết mổ và chuỗi bán lẻ thực phẩm nên phối trộn lycopene vào dầu thực vật nguyên chất ở tỷ lệ 0,1g lycopene trong 5ml dầu/100g thịt nạc vai, sau đó bao gói kín bằng màng LDPE và bảo quản lạnh ở 5 ± 1°C. Đích đến là kéo dài thời gian tươi ngon của thịt lên 6 ngày, giữ hàm lượng NH3 dưới 35 mg/100g và giảm 80% tốc độ oxy hóa chất béo. Timeline triển khai trong vòng 6 tháng tới, do các doanh nghiệp kinh doanh thịt tươi sạch chủ trì.

Thứ ba, thay thế phụ gia chống oxy hóa tổng hợp trong sản xuất dầu thực vật thô. Các nhà máy chế biến dầu lạc cần bổ sung trực tiếp chế phẩm lycopene với liều lượng 1 g/kg dầu để thay thế hoàn toàn phụ gia tổng hợp BHT 0,05 g/kg. Đích đến là duy trì chỉ số peroxide và độ axit dưới 0,05% trong suốt 42 ngày lưu kho ở nhiệt độ thường. Timeline áp dụng bắt đầu từ quý 3, đơn vị thực hiện là các hợp tác xã và xưởng tinh luyện dầu thực vật.

Thứ tư, hoàn thiện hồ sơ đăng ký tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm. Viện nghiên cứu cần phối hợp với cơ quan quản lý để xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho phụ gia lycopene tự nhiên từ phế phụ phẩm, đăng ký danh mục phụ gia an toàn theo Thông tư 24/2019/TT-BYT của Bộ Y tế. Đích đến là hoàn thành kiểm nghiệm độc tính tế bào và cấp chứng nhận hợp quy trong vòng 12 tháng, do các viện nghiên cứu công nghệ thực phẩm phối hợp cùng cơ quan quản lý nhà nước thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm thứ nhất: Các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Công nghệ thực phẩm, Hóa sinh và Công nghệ sau thu hoạch. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác về động học trích ly carotenoid, các quy trình phân tích chỉ số peroxide theo TCVN và AOCS, cùng phương pháp thiết kế thí nghiệm đa yếu tố trên phần mềm Minitab 16 phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Nhóm thứ hai: Các kỹ sư công nghệ và ban điều hành tại các doanh nghiệp chế biến, bảo quản thịt gia súc, gia cầm. Doanh nghiệp có thể ứng dụng trực tiếp công thức phối chế 0,1g lycopene/100g thịt kết hợp bao gói màng LDPE để kéo dài hạn lưu trữ thịt mát từ 3 ngày lên 6 ngày tại chuỗi bán lẻ, giảm tỷ lệ hư hỏng thịt sơ chế xuống dưới 5%.

Nhóm thứ ba: Các cơ sở sản xuất, ép dầu thực vật tự nhiên như dầu lạc, dầu mè, dầu đậu nành. Các đơn vị này có thể ứng dụng tỷ lệ 1 g/kg lycopene để nâng cao độ bền oxy hóa của sản phẩm trong 42 ngày mà không cần sử dụng phụ gia hóa học BHT hay BHA, từ đó định vị dòng sản phẩm dầu ăn hữu cơ cao cấp không chất bảo quản tổng hợp.

Nhóm thứ tư: Các nhà máy chế biến nông sản, sản xuất tương cà chua và nước sốt đóng hộp. Doanh nghiệp có thể tham khảo quy trình sấy bã ở 70°C để tận thu hơn 80% lượng bã thải nhà máy, biến phế phẩm gây ô nhiễm thành chế phẩm sinh học có độ tinh khiết 88%, mang lại nguồn doanh thu phụ trợ đáng kể.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Chế phẩm lycopene trích ly từ bã cà chua đạt các thông số kỹ thuật và hoạt tính sinh học như thế nào? Trả lời: Kết quả phân tích trong luận văn xác định chế phẩm sấy đối lưu đạt hàm lượng lycopene 0,88 ± 0,02 mg/mg chất khô, tương ứng độ tinh khiết 88% và độ ẩm an toàn 8,61%. Khả năng kháng oxy hóa của chế phẩm đạt 0,72 ± 0,01 µmol Trolox đương lượng trên 1 mg chất khô, khẳng định tiềm năng thay thế chất chống oxy hóa hóa học.

Câu hỏi 2: Vì sao bổ sung lycopene giúp kìm hãm chỉ số ammoniac (NH3) trong thịt lợn dưới ngưỡng cho phép sau 12 ngày? Trả lời: Lycopene sở hữu 11 nối đôi liên hợp giúp quét sạch gốc tự do và làm chậm quá trình tự phân giải protein của mô cơ. Sau 12 ngày ở 5 ± 1°C, mẫu có 0,3g lycopene/100g thịt chỉ sinh ra 32,61 mg NH3/100g thịt, kiểm soát tốt dưới ngưỡng 35 mg/100g của TCVN 7047:2009, trong khi mẫu đối chứng vượt lên 37,99 mg/100g.

Câu hỏi 3: Nồng độ lycopene khuyến nghị áp dụng cho thịt lợn nạc vai sơ chế là bao nhiêu và mang lại hiệu quả gì? Trả lời: Tác giả khuyến nghị nồng độ tối ưu là 0,1g lycopene hòa tan trong 5ml dầu lạc cho 100g thịt. Liều lượng này giúp kiểm soát mật độ vi sinh vật hiếu khí dưới ngưỡng 6 log CFU/g trong 6 ngày bảo quản lạnh, giảm tổn thất chỉ số peroxide và giữ trọn vẹn giá trị cảm quan tươi ngon của thịt.

Câu hỏi 4: Khả năng bảo quản dầu lạc của chế phẩm lycopene so với phụ gia tổng hợp BHT có điểm gì vượt trội? Trả lời: Xử lý lycopene ở liều lượng 1 g/kg dầu lạc cho hiệu quả kháng oxy hóa DPPH tương đương với BHT nồng độ 0,05 g/kg. Sau 42 ngày lưu trữ ở nhiệt độ phòng tối, độ axit của dầu duy trì ổn định dưới 0,05%, loại bỏ hoàn toàn nguy cơ độc tính phát sinh từ phụ gia tổng hợp.

Câu hỏi 5: Cần lưu ý những điều kiện vật lý nào khi sử dụng lycopene trong bảo quản thực phẩm? Trả lời: Lycopene rất nhạy cảm với ánh sáng quang hóa và nhiệt độ cao, do đó dầu bổ sung lycopene phải đựng trong lọ thủy tinh sẫm màu đậy kín. Đối với thịt sơ chế, cần bao gói kín bằng màng LDPE và duy trì nhiệt độ bảo quản lạnh nghiêm ngặt 5 ± 1°C để hạn chế tối đa sự thoái hóa sắc tố.

Kết luận

Tổng kết toàn bộ công trình nghiên cứu qua 5 kết luận khoa học cốt lõi:

• Xây dựng thành công quy trình chiết xuất lycopene từ bã cà chua với độ tinh khiết đạt 88% và khả năng kháng oxy hóa 0,72 µmol TE/mg chất khô. • Xác định nồng độ 0,1g lycopene/100g thịt giúp kéo dài thời gian bảo quản thịt tươi lạnh ở 5 ± 1°C lên 6 ngày, giữ hàm lượng NH3 an toàn dưới 35 mg/100g. • Chứng minh nồng độ 0,3g lycopene/100g thịt làm giảm hơn 90% chỉ số peroxide của lipid thịt ở ngày thứ 12 so với mẫu đối chứng không xử lý. • Khẳng định liều lượng 1 g/kg lycopene bảo vệ dầu lạc thô bền vững trong 42 ngày với độ axit dưới 0,05%, thay thế tương đương phụ gia tổng hợp BHT 0,05 g/kg. • Hoàn thiện giải pháp công nghệ tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp, thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và nâng cao chuỗi giá trị thực phẩm sạch.

Công trình luận văn của tác giả Nguyễn Văn Luân đã tạo ra bước đột phá quan trọng trong việc ứng dụng hoạt chất tự nhiên vào bảo quản nông sản tại Việt Nam. Trong lộ trình 2024 - 2026, các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp chế biến cần đẩy mạnh hợp tác chuyển giao công nghệ, tối ưu hóa quy mô pilot và đưa các sản phẩm ứng dụng lycopene ra thị trường nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng người tiêu dùng.