Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC 1. Trường Đại học và giảng viên trường đại họcY Dược 1. Khái quát về trường Đại học Trường đại học (tiếng Anh: college; La-tinh: collegium) là một cơ sở giáo dục đại học hay một phần của một viện đại học hay đại học. College có nguồn gốc từ chữ La-tinh collegium.
Ở La Mã thời xa xưa, collegium là một câu lạc bộ hay một hội, một nhóm người sống với nhau, tuân theo một tập hợp những quy tắc chung. Trong tiếng Việt, trường có nghĩa từ nguyên là "đám đất rộng, dùng làm nơi tụ tập đông người," ví dụ: trường học, trường thi. [5] Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam dưới các chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có tên là trường đại học và theo mô hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo dục của Liên Xô, tức là mỗi trường đại học tồn tại độc lập và tập trung vào một chuyên ngành hay một nhóm chuyên ngành riêng; ví dụ: Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Thủy lợi,. Trong trường đại học thường có các khoa; trong khoa có các bộ môn.
Việt Nam dưới hai chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có mô hình trường đại học tổng hợp và trường đại học bách khoa. Các trường đại học tổng hợp tập trung vào các ngành nhân văn và khoa học cơ bản. Loại này gồm có Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Tổng hợp Huế (nay thuộc Đại học Huế), và Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Các trường đại học bách khoa thì tập trung vào các ngành kỹ thuật và công nghệ.
Loại này gồm có Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng (nay thuộc Đại học Đà Nẵng), và Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). 9 Trong phạm vi luận văn chúng tôi đồng ý với khái niệm đại học được quy định trong Luật giáo dục Đại học của số: 08/2012/QH13: “Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện NCKH thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học” [6] Nhiệm vụ và quyền hạn của Trường Đại học Nhiệm vụ và quyền hạn của trường Đại học được qui định tại Luật giáo dục đại học số: 08/2012/QH13 ngày 01/01/2013. điều 28 và 29 của Quyết định 70/2014/QĐ-TTg ban hành ngày 10/12/2014 và [6], [7] Điều 28. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường cao đẳng, trường đại học, học viện 1.
Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục đại học. Triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu xác định; bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo. Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức, người lao động.
Quản lý người học; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của giảng viên, viên chức, nhân viên, cán bộ quản lý và người học; dành kinh phí để thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội, đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bảo đảm môi trường sư phạm cho hoạt động giáo dục. Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục. Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực; xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị.
Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, NCKH trong nước và nước ngoài. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở hoặc có tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định. Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Nhiệm vụ và quyền hạn của đại học 1.
Nhiệm vụ và quyền hạn của đại học: a) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển đại học; b) Quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động đào tạo của đại học; c) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực, chia sẻ tài nguyên và cơ sở vật chất dùng chung trong đại học; d) Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thanh tra Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đại học đặt trụ sở theo quy định; đ) Được chủ động cao trong các hoạt động về đào tạo, NCKH, công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức bộ máy; e) Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học thành viên; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học vùng và các cơ sở giáo dục đại học thành viên. Khái niệm giảng viên ở trường đại học Y Dược Giảng viên đại họcđược quy định tại Điều 54 Luật Giáo dục Đại học năm 2012 như sau: Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục [6]. 11 Giảng viên trường đại học Y Dược là những người làm công tác giảng dạy chuyên môn trong các cơ sở giáo dục đại học khối ngành sức khỏe (y, dược, điều dưỡng, kỹ thuật y học,…) chứ không phải những giảng viên giảng dạy các môn khoa học cơ bản ở trong trường.
Nhiệm vụ của giảng viênđại học Y Dược Các nhiệm vụ cụ thể của giảng viên đại học Y Dượcđược quy định tại điều 55 Luật giáo dục Đại học 2012 và được quy định tại Nghị định 111/2017/NĐ-CP bao gồm [6],[8]: + Giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ, có chất lượng chương trình đào tạo. + Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo. + Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giảng dạy. + Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của giảng viên.
+ Tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệcác quyền, lợi ích chính đáng của người học. + Tham gia quản lý và giám sát cơ sở giáo dục đại học, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác. + Được ký hợp đồng thỉnh giảng và NCKH với các cơ sở giáodục đại học, cơ sở NCKH theo quy định của pháp luật. + Được bổ nhiệm chức danh của giảng viên, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
+ Được phân công tham gia khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở thực hành khi đáp ứng yêu cầu theo quy định và cơ sở thực hành có nhu cầu; + Được xét tặng danh hiệu thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú và các hình thức thi đua, khen thưởng khác theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. 12 + Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật. Năng lực giảng viên của trường Đại học Y Dược Hải Phòng 1. Năng lực Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”.
[9] Đặng Thành Hưng cho rằng “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. [10] Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau nhưng có thể thấy các tác giả đều thống nhất rằng: - Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng và hành động trách nhiệm. - Năng lực chỉ tồn tại và phát triển được thông qua các hoạt động. Nói đến năng lực là nói đến khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó của cá nhân.
- Năng lực biểu hiện và quan sát được trong hoạt động, nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ. - Có nhiều năng lực khác nhau và mỗi cá nhân có năng lực khác nhau. - Năng lực chỉ có rèn luyện mới phát triển được. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định.
Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung kĩ thuật trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không tiếp thu lượng tri thức rời rạc. Năng lực được coi như một công cụ đo/đánh giá để xác định các nhân tố hành vi phù hợp với thực hiện từng vị trí công việc. Quá trình quản lý thực hiện 13 trở nên hiệu quả hơn khi nhân viên được đánh giá cả theo các mục tiêu (cái gì) và hành vi thực hiện (như thế nào).