Luận án TS: Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Thực trạng viêm gan B và can thiệp dự phòng ở phụ nữ mang thai tại Hải Phòng 2017-2020

Nghiên cứu thực trạng lây nhiễm Viêm gan B ở phụ nữ mang thai và hiệu quả của biện pháp can thiệp dự phòng tại Hải Phòng từ 2017 đến 2020.

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

199
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam

Viêm gan B là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi rút viêm gan B (HBV) gây ra, lây truyền chủ yếu qua đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con. Tại Việt Nam, tỉ lệ lưu hành HBV ở mức cao, ước tính khoảng 8-10% dân số mang vi rút. Phụ nữ mang thai nhiễm HBV đối mặt với nguy cơ lây truyền dọc sang thai nhi, đặc biệt trong giai đoạn chuyển dạ và sinh nở. Tỉ lệ lây truyền từ mẹ sang con có thể lên đến 90% nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời. Trẻ sơ sinh nhiễm HBV mạn tính có nguy cơ cao bị xơ gan và ung thư gan khi trưởng thành. Thành phố Hải Phòng là một trong những địa phương có tỉ lệ nhiễm HBV đáng kể, đòi hỏi các nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng. Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Thuỳ Linh thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã cung cấp bằng chứng khoa học quan trọng về vấn đề này trong giai đoạn 2017-2020.

1.1. Tầm quan trọng của sàng lọc HBV cho phụ nữ mang thai

Sàng lọc HBV cho phụ nữ mang thai là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong chuỗi can thiệp dự phòng lây truyền từ mẹ sang con. Việc xét nghiệm markers HBV bao gồm HBsAg, HBeAg, Anti-HBs, Anti-HBc và định lượng HBV-DNA giúp đánh giá tình trạng nhiễm trùng và mức độ lây truyền. Phụ nữ mang thai có HBsAg dương tính cần được theo dõi chuyên sâu. Xét nghiệm HBV-DNA giúp xác định nguy cơ lây truyền cao, từ đó bác sĩ có thể chỉ định điều trị kháng vi rút dự phòng trong thai kỳ. Việc sàng lọc sớm ngay từ lần khám thai đầu tiên giúp tăng hiệu quả can thiệp.

1.2. Cơ chế lây truyền HBV từ mẹ sang con

HBV lây truyền từ mẹ sang con chủ yếu qua ba con đường chính. Thứ nhất là lây truyền trong tử cung qua nhau thai, chiếm khoảng 5-10% trường hợp. Thứ hai là lây truyền trong quá trình chuyển dạ và sinh nở khi thai nhi tiếp xúc với máu và dịch tiết âm đạo của mẹ nhiễm HBV, đây là con đường phổ biến nhất. Thứ ba là lây truyền sau sinh qua tiếp xúc trực tiếp với mẹ. Yếu tố nguy cơ chính bao gồm tải lượng HBV-DNA cao ở mẹ, HBeAg dương tính và các thủ thuật sản khoa xâm lấn. Hiểu rõ cơ chế lây truyền giúp xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp.

II. Phân tích thực trạng mang vi rút viêm gan B trên phụ nữ mang thai tại Hải Phòng

Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2017-2020 đã cung cấp dữ liệu toàn diện về tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai. Kết quả cho thấy tỉ lệ mang HBsAg ở nhóm đối tượng nghiên cứu dao động trong khoảng đáng kể, phản ánh mức độ lưu hành cao của HBV trong cộng đồng. Đặc biệt, nhóm phụ nữ mang thai có HBeAg dương tính chiếm tỉ lệ không nhỏ, đây là nhóm có nguy cơ lây truyền cao nhất cho thai nhi. Các yếu tố nguy cơ được xác định bao gồm tuổi mẹ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiền sử gia đình có người nhiễm HBV và tiền sử phẫu thuật, thủ thuật xâm lấn. Nhiều phụ nữ mang thai không biết tình trạng nhiễm HBV của bản thân trước khi mang thai, cho thấy lỗ hổng trong công tác sàng lọc cộng đồng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tăng cường các biện pháp dự phòng và quản lý thai kỳ tại Hải Phòng.

2.1. Tỉ lệ nhiễm HBV và đặc điểm dịch tễ học tại Hải Phòng

Dữ liệu nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai phản ánh mức độ lưu hành cao của bệnh trong cộng đồng. Các phân tích dịch tễ học cho thấy sự khác biệt về tỉ lệ nhiễm theo nhóm tuổi, khu vực địa lý và trình độ dân trí. Phụ nữ ở vùng nông thôn có tỉ lệ nhiễm cao hơn so với thành thị. Nhóm tuổi sinh đẻ từ 25-35 tuổi chiếm đa số trong tổng số phụ nữ mang thai nhiễm HBV. Đặc biệt, nhiều thai phụ không được tư vấn đầy đủ về nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con trước và trong thai kỳ.

2.2. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm HBV

Nghiên cứu đã xác định nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai tại Hải Phòng. Tiền sử gia đình có người nhiễm HBV là yếu tố nguy cơ quan trọng, cho thấy vai trò của lây truyền gia đình. Tiền sử phẫu thuật, thủ thuật y tế xâm lấn cũng làm tăng nguy cơ nhiễm HBV. Trình độ học vấn thấp và thiếu kiến thức về phòng bệnh là yếu tố liên quan mật thiết. Ngoài ra, việc không tiêm phòng vắc xin viêm gan B trước khi mang thai cũng là nguyên nhân khiến nhiều phụ nữ dễ bị nhiễm bệnh. Các yếu tố này cần được xem xét trong chiến lược can thiệp.

III. Kết quả can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con tại Hải Phòng

Can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con tại Hải Phòng áp dụng chiến lược kết hợp nhiều biện pháp. Biện pháp cơ bản là tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh trong vòng 24 giờ sau sinh, được thực hiện rộng rãi theo chương trình Tiêm chủng mở rộng. Đối với trẻ sinh ra từ mẹ có HBsAg dương tính, việc tiêm phối hợp vắc xin viêm gan B và immunoglobulin viêm gan B (HBIg) giúp tăng hiệu quả dự phòng. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy hiệu quả của vắc xin viêm gan B đơn độc đạt khoảng 84% ở trẻ sinh ra từ mẹ có HBeAg dương tính. Tuy nhiên, việc bao phủ HBIg tại một số cơ sở chưa đạt yêu cầu. Giáo dục sức khỏe cho phụ nữ mang thai về cách phòng ngừa lây truyền HBV cũng được tăng cường. Kết quả can thiệp cho thấy tỉ lệ lây truyền từ mẹ sang con giảm đáng kể so với trước khi triển khai chương trình can thiệp toàn diện.

3.1. Hiệu quả tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh

3.2. Vai trò của giáo dục sức khỏe cộng đồng trong dự phòng HBV

Giáo dục sức khỏe cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con. Nhiều nghiên cứu ghi nhận rằng chỉ khoảng 66,1% phụ nữ mang thai sẵn sàng đưa con đi tiêm vắc xin viêm gan B trong vòng 24 giờ sau sinh. Việc tăng cường truyền thông giúp cải thiện kiến thức về nguy cơ lây truyền HBV, an toàn vắc xin và lợi ích của tiêm chủng. Nhân viên y tế cũng cần được đào tạo cập nhật kiến thức về dự phòng lây truyền dọc HBV. Giáo dục sức khỏe hướng đến phụ nữ trong độ tuổi sinh sản là chiến lược dài hạn nhằm loại trừ lây truyền HBV từ mẹ sang con tại Hải Phòng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu về dự phòng HBV tại Hải Phòng

Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thị Thuỳ Linh đã cung cấp bằng chứng khoa học có giá trị về thực trạng nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai và hiệu quả can thiệp dự phòng tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai vẫn ở mức đáng lo ngại, đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa từ ngành y tế địa phương. Chương trình can thiệp kết hợp tiêm vắc xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh, sử dụng HBIg cho trẻ nguy cơ cao và giáo dục sức khỏe cộng đồng đã phát huy hiệu quả trong việc giảm tỉ lệ lây truyền từ mẹ sang con. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức về bao phủ tiêm chủng và nhận thức của cộng đồng. Các khuyến nghị từ nghiên cứu được áp dụng để cải thiện chính sách y tế công cộng tại Hải Phòng, hướng tới mục tiêu loại trừ viêm gan B ở trẻ em.

4.1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận án

Luận án có ý nghĩa khoa học quan trọng khi cung cấp dữ liệu cập nhật về thực trạng nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai tại Hải Phòng. Nghiên cứu đánh giá toàn diện các yếu tố nguy cơ và hiệu quả can thiệp dự phòng, bổ sung bằng chứng cho y văn Việt Nam về chủ đề này. Kết quả nghiên cứu giúp xây dựng cơ sở dữ liệu dịch tễ học HBV tại địa phương, phục vụ công tác lập kế hoạch y tế. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng có thể nhân rộng tại các tỉnh thành khác trên cả nước.

4.2. Khuyến nghị cho chính sách y tế công cộng tại Hải Phòng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhiều khuyến nghị được đề xuất cho chính sách y tế công cộng tại Hải Phòng. Thứ nhất, cần mở rộng chương trình sàng lọc HBV cho tất cả phụ nữ mang thai ngay từ lần khám thai đầu tiên. Thứ hai, tăng cường cung cấp HBIg cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HBV. Thứ ba, đẩy mạnh giáo dục sức khỏe cộng đồng về dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con. Thứ tư, đào tạo cập nhật kiến thức cho nhân viên y tế về dự phòng lây truyền dọc HBV. Các khuyến nghị này hướng tới mục tiêu loại trừ viêm gan B ở trẻ em tại Hải Phòng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ luận án tiến sĩ thực trạng mang vi rút viêm gan b trên phụ nữ mang thai và kết quả can thiệp dự phòng tại thành phố hải phòng năm 2017 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bệnh viêm gan B 1. Định nghĩa Viêm gan vi rút B là một bệnh truyền nhiễm, được biểu hiện dưới 2 thể là viêm gan B (VGB) cấp tính và mạn tính. Bệnh có thể lây truyền qua đường máu, đường tình dục, từ mẹ truyền sang con [18].

Diễn biến của bệnh viêm gan B có thể diễn biến cấp tính, trong đó hơn 90% số trường hợp khỏi hoàn toàn, gần 10% chuyển sang viêm gan mạn tính và hậu quả cuối cùng là xơ gan hoặc ung thư gan. Bệnh VGB mạn tính được định nghĩa là sự tồn tại của kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) trong sáu tháng hoặc hơn - là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn [19]. Căn nguyên của bệnh viêm gan B Vi rút viêm gan B (HBV) thuộc họ Hepadnaviridae, là một loại vi rút mang gen di truyền DNA chuỗi kép, có thời gian ủ bệnh từ 3 đến 6 tháng. Dựa vào trình tự các nucleotide, HBV được chia thành 10 kiểu gen khác nhau ký hiệu từ A đến J.

HBV có 3 loại kháng nguyên HBsAg, HBeAg và HBcAg, tương ứng với 3 loại kháng nguyên trên là 3 loại kháng thể anti - HBs, anti - HBc và anti - HBe. Sự hiện diện của các kháng nguyên, kháng thể này quan trọng trong việc xác định bệnh, thể bệnh cũng như diễn biến bệnh [18]. Dịch tễ học về viêm gan B Theo báo cáo của WHO năm 2020, tỉ lệ nhiễm HBV cao nhất ở khu vực Tây Thái Bình Dương và khu vực Châu Phi (lần lượt là 6,2% và 6,1% dân số trưởng thành bị nhiễm bệnh); tại khu vực Đông Địa Trung Hải, khu vực Đông Nam Á và khu vực Châu Âu của WHO ước tính khoảng 3,3%; 2.0% và 1,6% dân số nói chung và ở khu vực Châu Mỹ của WHO là khoảng 0,7% dân số nhiễm bệnh [20]. Lây truyền HBV có thể xảy ra theo chiều dọc và theo chiều ngang [21]: 4 Lây truyền theo chiều dọc: Là lây truyền từ mẹ sang con, đa số xảy ra trong thời kỳ chu sinh hay những tháng đầu sau sinh, không lây nhiễm qua nhau thai.

Lây truyền theo chiều dọc xảy ra chủ yếu ở những vùng lưu hành HBsAg cao, thường gặp ở những nước vùng châu Á. Mức độ lây truyền tùy thuộc vào nồng độ HBV DNA và tình trạng HBeAg của mẹ vào 3 tháng cuối thai kỳ. Lây truyền theo chiều ngang: Có hai đường lây chính là qua đường tình dục và qua tiếp xúc với máu, các vật phẩm của máu hay dịch tiết của người bị nhiễm HBV. Bệnh viêm gan vi rút B không lây truyền qua thức ăn, nước uống và tiếp xúc thông thường.

 Máu và vật phẩm của máu là yếu tố lây nhiễm quan trọng nhất vì có lượng HBV cao. HBV được tìm thấy trong dịch âm đạo, tinh dịch với nồng độ thấp so với trong huyết tương hơn 100 lần. Các dịch khác như dịch màng bụng, màng phổi, dịch não tủy, sữa, nước bọt, mồ hôi, nước tiểu, phân, dịch mật…cũng có chứa HBV nhưng với nồng độ rất thấp, vì vậy khả năng lây nhiễm qua các dịch này cũng rất thấp.  Lây qua đường tình dục, qua sử dụng chung kim tiêm ( chích thuốc, châm cứu, xăm, xỏ lổ trên cơ thể như xỏ lổ tai, lổ mũi…) với người bị nhiễm HBV là kiểu lây theo chiều ngang thường gặp nhất.

Dùng chung bàn chải đánh răng và dao cạo râu có dính máu hay dịch của người bị nhiễm cũng có thể bị lây nhiễm HBV. Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai Viêm gan B là bệnh có thể truyền từ mẹ sang con. Khoảng 90% phụ nữ mang thai bị nhiễm HBV cấp tính và từ 10 - 20% phụ nữ có nhiễm HBV mạn tính sẽ truyền vi rút sang con. Khác với người lớn, trẻ sơ sinh bị nhiễm HBV cấp tính có thể có triệu chứng nặng, thậm chí đe dọa đến tính mạng.

90% trẻ sơ sinh nhiễm HBV cấp tính sẽ chuyển thành người mang vi rút mạn tính nếu không có các can thiệp phù hợp. Khi trưởng thành, họ có 25% nguy cơ tử vong vì xơ gan hoặc ung thư tế bào gan. Tỉ lệ lây truyền HBV từ mẹ sang con có thể 5 được kiểm soát nhờ một số can thiệp y học ngay từ giai đoạn mang thai. Do đó, phụ nữ mang thai nên được tầm soát VGB (bằng xét nghiệm HBsAg), tốt nhất nên thực hiện trong giai đoạn sớm của thai kỳ để có thể can thiệp kịp thời [22].

Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai trên Thế giới Trong một nghiên cứu tổng quan được thực hiện bằng việc tìm kiếm thủ công và điện tử các tài liệu liên quan được xuất bản bằng tiếng Anh hoặc dịch sang tiếng Anh trong PUBMED và SCOPUS trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến 2016 về về kháng nguyên bề mặt HBV ở phụ nữ mang thai ở Nigeria. Từ khóa tìm kiếm bao gồm: dịch tễ học nhiễm HBV, lây truyền HBV từ mẹ sang con, các chiến lược phòng ngừa của lây truyền HBV từ mẹ sang con (bao gồm sàng lọc trước khi sinh, thuốc kháng vi rút trong thai kỳ, trẻ sơ sinh điều trị dự phòng sau phơi nhiễm và theo dõi những đứa trẻ bị nhiễm bệnh). Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai ở Nigeria khoảng 2 – 15,2%; tỉ lệ hiện nhiễm HBV trong thai kỳ ở Zaria và Ilorin thuộc Bắc -Trung Nigeria lần lượt là 8,2% và 5,7% [23], [24], [25]. Một nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 397 phụ nữ mang thai tuần thứ 28 đến khám thai ở 2 bệnh viện ở phía bắc Uganda (Đông Phi) từ tháng 9/2012 đến tháng 1/2013, kết quả cho thấy tỉ lệ thai phụ mang HBV là 11,8%, tỉ lệ nhiễm cao hơn ở những thai phụ trẻ tuổi [26].

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2014 trên 260 phụ nữ mang thai đến khám thai tại 03 trung tâm Y tế ở Addis Ababa, Ethiopi cho thấy có 4,7% thai phụ mang HBV [27] Tại Gambia - một quốc gia thuộc Tây Phi, một nghiên cứu sử dụng công cụ chẩn đoán nhanh Elisa để kiểm tra sự có mặt của kháng nguyên bề mặt VGB trong huyết thanh (HBsAg) cho 426 phụ nữ mang thai tại các phòng khám tiền sản ở bệnh viện thực hành Edward Francis, tỉ lệ mang HBV của phụ nữ mang thai là 6,67%. Nhóm phụ nữ mang thai được tiêm vắc xin VGB trước đó có tỉ lệ lưu hành thấp hơn [28]. 6 Trong nghiên cứu được tiến hành trên 14.314 phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Shengjing thuộc Đại học Y Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2016, tỉ lệ lưu hành HBsAg ở những phụ nữ mang thai này là 3,1% (441/14314) [29]. Hiện tại, mỗi năm có 180 000 trẻ sơ sinh ở Khu vực Tây Thái Bình Dương bị nhiễm HBV [30].

Tại Lào, một nghiên cứu hồi cứu đã được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bệnh viện Mahosot để thu thập và phân tích tất cả các kết quả xét nghiệm HBsAg ở phụ nữ mang thai từ năm 2008 đến năm 2014. Kết quả cho thấy 720 phụ nữ (5,44% [95 CI: 5,1–5,8%]) được tìm thấy HBsAg dương tính, tỉ lệ hiện mắc hàng năm từ 4,6% đến 6,2%. Tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai giảm ở nhó nhận được tư vấn về VGB và nhóm sống ở khu vực thành thị [31]. Lây truyền qua chu sinh vẫn là nguyên nhân hàng đầu làm lây lan HBV ở Philippines.

Một nghiên cứu được thực hiện trên 768 phụ nữ mang thai nhằm xác định tỷ lệ lưu hành của HBsAg và kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg) ở các đối tượng này. Kết quả cho thấy tỉ lệ mang HBsAg ở phụ nữ mang thai là 9,6% [32]. Dịch tễ học viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam Việt Nam có khoảng 7,8 triệu người đang sống chung với vi rút VGB, điều này có nghĩa là trong 11 người ở Việt Nam thì có một người bị nhiễm HBV. Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tỉ lệ mang vi rút VGB ở các đối tượng dân cư khác nhau, như: Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Thức năm 2001 trên 300 thuyền viên của Công ty vận tải biển Việt Nam VOSCO và Tổng Công ty xăng dầu PETROLIMEX đưa ra tỉ lệ nhiễm HBV ở những thuyền viên đi biển là 54,67%.

Tỉ lệ nhiễm tập trung ở tuổi 30-49, tăng dần theo tuổi nghề và cao hơn ở nhóm không hiểu biết về bệnh VGB [33]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thuý Quỳnh và cs từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2008 trên đối tượng là nhân viên y tế (NVYT) tại một số bệnh viện ở Hà 7 Nội và Nam Định cho thấy tỉ lệ mang HBsAg dương tính là 6,9% [34]; Nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Dung và cs năm 2010 chỉ ra tỉ lệ nhiễm HBV của người dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ là 7% [35]; Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Bàng và cộng sự trên 798 đối tượng là thành viên của 253 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ 980 hộ với 3250 thành viên ở xã Bản Qua (Bát Xát, Lào Cai), tỉ lệ mang HBsAg là 12,4% [36]; Nghiên cứu của tác giả Lê Đình Vĩnh Phúc và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh trên 601 trường hợp là phụ nữ độ tuổi từ 20 đến 35 đến khám tầm soát VGB tại phòng khám Nhiễm - Trung tâm Y khoa MEDIC từ tháng 2 - 12 năm 2015, tỉ lệ mang HBV ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (20 – 35 tuổi) là 12,6% [4]; Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Cường trên 2019 người dân từ 20-60 tuổi đang sinh sống tại 24/159 xã, phường thuộc địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2016 – 2017 cho thấy tỷ lệ mang HBsAg (+) chung là 11,89% [37]. Các số liệu về tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai chủ yếu được đánh giá tại thời điểm thai 7 tháng hoặc tại thời điểm đến sinh con tại cơ sở y tế, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tỉ lệ nhiễm từ lần khám thai đầu tiên: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga và cộng sự năm 1994 trên 254 sản phụ đến sinh ở Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng và Trung Tâm Y tế quận Ngô Quyền, xét nghiệm HBsAg cho thấy có 12,59% bà mẹ nhiễm vi rút viêm gan B [17]. Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Bình và cộng sự năm 1996 trên 1564 sản phụ vào sinh tại Bệnh viện Quân đội 108, xét nghiệm HBsAg phát hiện 166 sản phụ có HBsAg(+) ở 3 tháng cuối thai kỳ (chiếm tỷ lệ 10,61%) [38].

Trong nghiên cứu của tác giả Chu Thị Thu Hà trên 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ