Tổng quan luận án
Bệnh viêm gan vi rút B (HBV) là một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Theo số liệu công bố từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế năm 2019, Việt Nam thuộc khu vực có tỷ lệ lưu hành HBV cao với khoảng 8,1% dân số chung mang vi rút; tỷ lệ mang HBV ở phụ nữ mang thai dao động từ 10% đến 20%, và tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con từ 5% đến 10%, trong đó có tới 90% trẻ sơ sinh bị lây nhiễm sẽ chuyển thành viêm gan B mạn tính với 25% nguy cơ tiến triển thành xơ gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan khi trưởng thành. Mặc dù các biện pháp dự phòng như tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh trong 24 giờ đầu, sử dụng huyết thanh kháng viêm gan B (HBIg) và thuốc kháng vi rút (TDF/Lamivudine) đã được triển khai, khả năng tiếp cận dịch vụ sàng lọc sớm, điều trị thai kỳ và năng lực can thiệp dự phòng của nhân viên y tế tại các cơ sở chuyên khoa sản vẫn còn nhiều hạn chế.
Tại thành phố Hải Phòng, sau công trình nghiên cứu năm 1994 của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga và cộng sự ghi nhận tỷ lệ nhiễm HBV ở sản phụ là 12,59%, trong thời gian dài chưa có thêm công trình nào đánh giá toàn diện tỷ lệ lây truyền mẹ - con trong điều kiện dự phòng thực tế cũng như hiệu quả của các can thiệp nâng cao năng lực cho cán bộ y tế và thai phụ. Nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này, luận án tiến sĩ Y tế công cộng của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thuỳ Linh, với đề tài "Thực trạng mang vi rút viêm gan B trên phụ nữ mang thai và kết quả can thiệp dự phòng tại thành phố Hải Phòng năm 2017-2020", được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Minh Khuê và PGS. Nguyễn Văn Bàng. Luận án sử dụng một phần số liệu từ đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố mã số ĐT.794.
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng lây truyền HBV từ mẹ sang con và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ có thai đến khám và quản lý thai nghén tại bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng năm 2017-2018.
- Đánh giá kết quả can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con bằng truyền thông giáo dục sức khoẻ cho bà mẹ và nhân viên y tế trên địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, trẻ sơ sinh sinh ra từ các bà mẹ mang HBV mạn tính được theo dõi đến 12 tháng tuổi, và đội ngũ nhân viên y tế trực tiếp làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản tại bệnh viện.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập số liệu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc thuần tập triển khai từ năm 2017 đến 2018; giai đoạn triển khai can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe và đánh giá theo dõi hoàn thành năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng hợp hệ thống các tài liệu dịch tễ học và can thiệp lâm sàng trong nước và quốc tế về bệnh viêm gan B ở phụ nữ mang thai và lây truyền chu sinh:
Dịch tễ học nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai
- Trên thế giới: Báo cáo của WHO (2020) cho thấy tỷ lệ nhiễm HBV cao nhất tại khu vực Tây Thái Bình Dương (6,2%) và Châu Phi (6,1%). Các nghiên cứu tại từng quốc gia ghi nhận tỷ lệ mang HBsAg ở thai phụ dao động: Nigeria từ 2% đến 15,2% (Zaria 8,2%, Ilorin 5,7%); Uganda (2012-2013) là 11,8% trên 397 thai phụ tuần thứ 28; Ethiopia (2014) là 4,7% trên 260 thai phụ; Gambia là 6,67% trên 426 thai phụ; Trung Quốc (2016) là 3,1% trên 14.314 thai phụ tại Bệnh viện Shengjing; Lào (2008-2014) là 5,44% trên 720 phụ nữ tại Bệnh viện Mahosot; Philippines là 9,6% trên 768 thai phụ.
- Tại Việt Nam: Các nghiên cứu trên quần thể chung ghi nhận tỷ lệ mang HBsAg: Phạm Văn Thức (2001) trên 300 thuyền viên (54,67%); Nguyễn Thuý Quỳnh và cs (2008) trên nhân viên y tế tại Hà Nội và Nam Định (6,9%); Trần Ngọc Dung và cs (2010) tại Cần Thơ (7%); Nguyễn Văn Bàng và cs tại Bát Xát, Lào Cai (12,4%); Lê Đình Vĩnh Phúc và cs (2015) trên phụ nữ 20-35 tuổi tại MEDIC TP.HCM (12,6%); Nguyễn Đức Cường (2016-2017) tại Quảng Bình (11,89%). Ở phụ nữ mang thai, Đinh Thị Bình và cs (1996) ghi nhận 10,61% tại Bệnh viện 108; Chu Thị Thu Hà (2006) ghi nhận 12,5% thai phụ tại Hà Nội với tỷ lệ lây truyền mẹ - con là 35,6%; Nguyễn Văn Hiền (2006-2010) tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương ghi nhận 0,162%; Đào Thị Mỹ Phượng (2013-2014) tại Bình Dương ghi nhận 10,5% thai phụ mang HBV và nguy cơ lây truyền mẹ - con là 42,5%; Nguyễn Thị Thuý Vân (2015) tại Thái Nguyên ghi nhận 8,0%; nghiên cứu thuần tập tại Khánh Hòa (2009-2012) ghi nhận tỷ lệ 12,6% ở thai phụ và 1,9% ở trẻ 12 tháng tuổi.
Các phương thức và yếu tố liên quan đến lây truyền mẹ sang con
- Phương thức lây truyền: Gồm lây truyền trong tử cung (do hàng rào nhau thai dãn mỏng ở 3 tháng cuối, áp lực chuyển dạ gây tổn thương vi thể, và truyền theo gradient nồng độ vi rút), lây truyền chu sinh trong lúc chuyển dạ (tiếp xúc máu và dịch âm đạo, co kéo bánh nhau), và lây truyền sau sinh (tiếp xúc dịch cơ thể, nứt núm vú khi cho con bú).
- Yếu tố nguy cơ: Tình trạng HBeAg dương tính của mẹ làm tăng tỷ lệ lây truyền lên 70-90% nếu không dự phòng (Đỗ Trung Phấn năm 1996 ghi nhận 96,5% máu cuống rốn mang HBsAg khi mẹ HBeAg(+); Phí Đức Long năm 2011 ghi nhận 62,5%; nghiên cứu tại Colombia ghi nhận 85,7%). Tải lượng HBV-DNA của mẹ > 200.000 IU/ml (hoặc > 10⁶ copies/ml) được EASL, APASL và các nghiên cứu của Yi P (2016), Burgis JC (2011) xác định là yếu tố nguy cơ chính gây thất bại dự phòng miễn dịch.
- Biện pháp can thiệp y học:
- Thuốc kháng vi rút (TDF/Lamivudine): Nghiên cứu của Celen MK ghi nhận nhóm điều trị TDF có tỷ lệ lây truyền 0% so với 8,3% ở nhóm đối chứng; Greenup ghi nhận 2% so với 20%; Jourdain (2018) ghi nhận 0% so với 2,0%; Nguyễn Văn Bàng và cs (2014 tại Việt Nam) ghi nhận tỷ lệ lây truyền ở trẻ 52 tuần tuổi là 2,4% (nhóm Lamivudine 3%, nhóm TDF 2%); Chen và cs (Đài Loan) ghi nhận tỷ lệ mang HBsAg ở trẻ 6 tháng tuổi là 1,54% ở nhóm TDF so với 10,71% ở nhóm chứng.
- Vắc xin và HBIg: WHO khuyến cáo tiêm vắc xin sơ sinh trong 24 giờ đầu kết hợp HBIg trong 12 giờ. Zhang (Trung Quốc) ghi nhận tỷ lệ thất bại miễn dịch ở nhóm tiêm phối hợp là 7,9% so với 16,9% ở nhóm chỉ tiêm vắc xin (p < 0,05). Milne (2002 tại Việt Nam) trên 2.000 trẻ tại Bình Định và Quy Nhơn chứng minh tiêm đơn thuần vắc xin đạt hiệu quả bảo vệ 84% ở nhóm mẹ HBeAg(+). Nguyen Tran Hien (2014) khảo sát 949 trẻ tại Việt Nam ghi nhận tỷ lệ mang HBsAg ở nhóm tiêm đủ ≥ 3 mũi gồm liều sơ sinh là 1,75%, thấp hơn nhóm thiếu liều sơ sinh (2,98%) và nhóm chưa tiêm (PR = 1,99).
- Bú mẹ và phương thức đẻ: Hill JB, Shi Z, Montoya-Ferrer A chứng minh bú mẹ không làm tăng nguy cơ lây truyền nếu trẻ được tiêm phòng miễn dịch đầy đủ. Các nghiên cứu của Wang J, Hu Yali, Jang, Guo Z chỉ ra sinh mổ không được khuyến cáo thường quy để thay thế sinh thường nhằm mục đích dự phòng HBV.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam là thử nghiệm lâm sàng khống chế yếu tố can thiệp hoặc khảo sát cắt ngang đơn thuần. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc đánh giá sự lây truyền HBV từ mẹ sang con trong điều kiện thực tế lâm sàng tại một bệnh viện phụ sản tuyến tỉnh/thành phố, đồng thời đo lường hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe hai chiều nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) cho cả phụ nữ mang thai và nhân viên y tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị viêm gan vi rút B của Bộ Y tế Việt Nam (Quyết định số 5448/QĐ-BYT năm 2014 và Quyết định số 3310/QĐ-BYT năm 2019), các khuyến cáo chuyên môn của WHO, Hiệp hội Nghiên cứu Gan Châu Âu (EASL) và Hiệp hội Nghiên cứu Gan Châu Á Thái Bình Dương (APASL).
Khung phân tích lây truyền chu sinh được xây dựng dựa trên sự tương tác giữa:
- Nồng độ HBV-DNA, tình trạng kháng nguyên HBeAg và chỉ số men gan ALT của thai phụ trong 3 tháng cuối thai kỳ.
- Việc sử dụng thuốc kháng vi rút (TDF) trong thai kỳ.
- Các can thiệp miễn dịch sơ sinh (tiêm vắc xin VGB trong 24 giờ đầu, tiêm HBIg trong 12 giờ đầu, hoàn thành 3 mũi vắc xin).
- Thực hành nuôi dưỡng (bú mẹ, ăn sữa ngoài) và phương thức sinh (sinh thường, sinh mổ).
- Mức độ hiểu biết, thái độ và thực hành phòng bệnh của thai phụ và cán bộ y tế.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các thiết kế nghiên cứu dịch tễ học:
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc thuần tập (Mục tiêu 1):
- Sàng lọc HBsAg trên 1.721 phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.
- Theo dõi 183 thai phụ mang HBV mạn tính: xét nghiệm HBeAg, tải lượng HBV-DNA và ALT tại thời điểm thai 7 tháng và khi sinh; đánh giá chỉ định điều trị TDF theo Quyết định 5448/QĐ-BYT.
- Xét nghiệm HBsAg trong máu cuống rốn của 183 trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh.
- Theo dõi thuần tập 150 cặp mẹ - con đến thời điểm trẻ 12 tháng tuổi: ghi nhận lịch sử tiêm vắc xin VGB sơ sinh, tiêm HBIg, hoàn thành 3 mũi vắc xin VGB trong chương trình Tiêm chủng mở rộng, hình thức nuôi dưỡng, và xét nghiệm HBsAg của trẻ lúc 12 tháng tuổi.
- Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe so sánh trước - sau (Mục tiêu 2):
- Thực hiện can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trên nhóm bà mẹ mang thai và nhóm nhân viên y tế (n = 131) tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.
- Đo lường sự thay đổi điểm số trung bình và tỷ lệ đạt về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) trước và sau can thiệp.
Thiết kế nghiên cứu của luận án:
1. Sàng lọc thai phụ (n = 1.721) -> Xác định tỷ lệ mang HBsAg (+)
2. Theo dõi thai phụ mang HBV (n = 183) -> Đánh giá HBeAg, HBV-DNA, ALT lúc 7 tháng và khi sinh
3. Đánh giá sơ sinh (n = 183) -> Xét nghiệm HBsAg máu cuống rốn
4. Theo dõi trẻ đến 12 tháng (n = 150) -> Đánh giá tiêm chủng, HBIg, HBsAg trẻ 12 tháng tuổi
5. Can thiệp truyền thông GDSK -> Đánh giá KAP trước - sau trên bà mẹ và NVYT (n = 131)
Công cụ, kỹ thuật thu thập và xử lý số liệu
- Xét nghiệm cận lâm sàng: Kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA) xác định HBsAg, HBeAg; kỹ thuật Real-time PCR định lượng nồng độ HBV-DNA; xét nghiệm sinh hóa định lượng men gan ALT/AST.
- Công cụ điều tra: Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc chuẩn hóa đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống lây truyền HBV từ mẹ sang con.
- Xử lý số liệu: Quản lý và phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê y học; tính toán tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), kiểm định t-test so sánh trước - sau, tính tỷ số chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (95%CI) và mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng mang HBsAg ở trẻ 12 tháng tuổi.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Trình bày gánh nặng bệnh tật của viêm gan B tại Việt Nam và trên thế giới, cơ chế chuyển mạn tính nguy hiểm ở trẻ sơ sinh, tính cấp thiết của việc dự phòng chu sinh, thực trạng thiếu dữ liệu theo dõi thực tế tại Hải Phòng và xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài.
Chương 1: Tổng quan
Hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn: căn nguyên vi rút HBV, dịch tễ học ở phụ nữ mang thai toàn cầu và Việt Nam, 3 phương thức lây truyền mẹ - con (trong tử cung, chu sinh, sau sinh), các yếu tố liên quan (tải lượng vi rút, HBeAg, ALT), hiệu quả của các biện pháp can thiệp (vắc xin sơ sinh, vắc xin 3 liều, kháng huyết thanh HBIg, thuốc kháng vi rút Tenofovir/Lamivudine, phương thức đẻ, bú mẹ), và thực trạng khoảng trống kiến thức, thái độ, thực hành của thai phụ cùng cán bộ y tế.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết đối tượng, địa điểm (Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng), thời gian (2017-2020), thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc và can thiệp giáo dục sức khỏe trước - sau. Quy định rõ tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ, các quy trình thu thập mẫu máu xét nghiệm HBsAg, HBeAg, HBV-DNA, kỹ thuật phỏng vấn KAP, tiêu chuẩn đánh giá kết quả, quy trình khống chế sai số và chấp thuận đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Luận án trình bày kết quả thực nghiệm theo 2 nhóm nội dung chính tương ứng với 2 mục tiêu nghiên cứu:
1. Thực trạng lây truyền HBV từ mẹ sang con và các yếu tố liên quan
- Tỷ lệ mang HBV ở thai phụ: Sàng lọc trên 1.721 phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ mang HBsAg mạn tính. Nhóm 183 thai phụ mang HBV mạn tính được theo dõi chuyên sâu về nồng độ HBV-DNA, tình trạng HBeAg và ALT tại thời điểm thai 7 tháng và lúc sinh.
- Điều trị kháng HBV: Đánh giá tỷ lệ thai phụ có chỉ định điều trị theo Quyết định 5448/QĐ-BYT và tỷ lệ thực tế tham gia điều trị; phân tích sự thay đổi nồng độ HBV-DNA giữa thời điểm 7 tháng và lúc sinh ở các nhóm có và không điều trị.
- Lây truyền tại thời điểm sơ sinh: Phân tích tỷ lệ mang HBsAg trong máu cuống rốn của 183 trẻ sơ sinh theo nồng độ HBV-DNA và tình trạng HBeAg của bà mẹ lúc sinh.
- Theo dõi trẻ tại thời điểm 12 tháng tuổi (n = 150):
- Tỷ lệ tiêm vắc xin VGB sơ sinh trong 24 giờ đầu, tỷ lệ tiêm HBIg, và tỷ lệ hoàn thành 3 mũi vắc xin VGB theo chương trình tiêm chủng.
- Tỷ lệ mang HBsAg (+) ở trẻ 12 tháng tuổi.
- Phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố liên quan đến lây truyền HBV sang trẻ 12 tháng tuổi.
| Các yếu tố nghiên cứu liên quan đến lây truyền HBV sang trẻ 12 tháng tuổi |
Nội dung / Phân nhóm đánh giá trong luận án |
| Đặc điểm của mẹ |
Tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiền sử gia đình có người mang HBV, tiền sử tiêm vắc xin VGB của mẹ |
| Dấu ấn vi rút học của mẹ lúc sinh |
Tình trạng HBeAg (dương tính / âm tính), nồng độ HBV-DNA huyết thanh, men gan ALT |
| Can thiệp điều trị ở mẹ |
Tình trạng điều trị thuốc kháng vi rút (TDF/Lamivudine) trong thai kỳ |
| Can thiệp dự phòng ở trẻ |
Tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh (trong 24 giờ), tiêm kháng huyết thanh HBIg (trong 12 giờ), tiêm đủ 3 mũi vắc xin VGB giai đoạn 12 tháng |
| Chăm sóc sau sinh |
Hình thức nuôi dưỡng (bú sữa mẹ hoàn toàn / ăn sữa công thức / hỗn hợp), phương thức sinh (sinh thường / sinh mổ) |
2. Kết quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe
- Đối với phụ nữ mang thai: Can thiệp truyền thông làm thay đổi rõ rệt điểm trung bình kiến thức về bệnh viêm gan B, đường lây truyền, các biện pháp dự phòng lây truyền mẹ - con; cải thiện thái độ đối với việc sàng lọc thai kỳ và điều trị dự phòng; nâng cao tỷ lệ thực hành cho trẻ tiêm phòng sơ sinh và tuân thủ tiêm chủng đầy đủ.
- Đối với nhân viên y tế (n = 131):
- Trước can thiệp: Đánh giá tỷ lệ nhân viên y tế từng tiếp cận quy trình chẩn đoán, điều trị VGB ở phụ nữ mang thai và tỷ lệ tham gia các khóa tập huấn liên quan đến VGB trong 2 năm gần nhất.
- Sau can thiệp: Điểm trung bình KAP của nhân viên y tế tăng lên có ý nghĩa thống kê trên tất cả các nội dung: kiến thức dịch tễ học, đường lây truyền, biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán và quản lý thai phụ nhiễm HBV, chỉ định điều trị thuốc kháng vi rút trong thai kỳ, kiến thức về vắc xin VGB và quy trình sử dụng HBIg tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, thái độ và thực hành tư vấn, xử trí lâm sàng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp bộ dữ liệu thực địa có hệ thống về dịch tễ học nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai và tỷ lệ lây truyền sang con qua các mốc thời điểm (máu cuống rốn sơ sinh và huyết thanh trẻ 12 tháng tuổi) trong điều kiện thực tế lâm sàng tại Việt Nam.
- Khẳng định vai trò quyết định của nồng độ HBV-DNA mẹ lúc sinh và tình trạng HBeAg dương tính đối với nguy cơ lây truyền HBV sang con; chứng minh giá trị của việc phối hợp đồng bộ giữa điều trị kháng vi rút cho mẹ trong thai kỳ với các biện pháp miễn dịch chủ động (vắc xin sơ sinh) và thụ động (HBIg) cho trẻ sơ sinh.
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trong việc cải thiện toàn diện điểm số kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của nhân viên y tế sản khoa và thai phụ.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Xây dựng quy trình sàng lọc và quản lý: Đề xuất áp dụng quy trình sàng lọc HBsAg thường quy sớm cho 100% phụ nữ mang thai ngay từ lần khám thai đầu tiên tại các cơ sở y tế chuyên khoa sản.
- Quản lý điều trị thai kỳ: Chỉ định xét nghiệm định lượng HBV-DNA, HBeAg và ALT cho các thai phụ HBsAg (+) ở tuần thai 24-28 để kịp thời điều trị thuốc kháng vi rút (TDF) cho những trường hợp có tải lượng vi rút cao theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Đảm bảo miễn dịch sơ sinh: Nâng cao tỷ lệ bao phủ tiêm vắc xin viêm gan B sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu sau sinh tại bệnh viện; tư vấn và mở rộng chỉ định tiêm HBIg trong vòng 12 giờ đầu cho trẻ sinh ra từ mẹ mang HBV có nguy cơ cao (HBeAg dương tính, tải lượng vi rút cao); duy trì theo dõi và hướng dẫn tiêm đủ 3 liều vắc xin cơ bản cho trẻ đến 12 tháng tuổi.
- Đào tạo liên tục: Thiết lập chương trình đào tạo, tập huấn định kỳ về dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con cho đội ngũ bác sĩ, nữ hộ sinh và nhân viên y tế làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại một bệnh viện chuyên khoa phụ sản tuyến thành phố (Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng), do đó các đặc điểm can thiệp lâm sàng và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có thể chưa đại diện hoàn toàn cho các vùng sâu, vùng xa hoặc các cơ sở y tế tuyến huyện/xã.
- Trong điều kiện thực tế, việc tiếp cận xét nghiệm tải lượng HBV-DNA và sử dụng huyết thanh kháng viêm gan B (HBIg) còn phụ thuộc vào khả năng tự chi trả kinh phí của gia đình người bệnh (chi phí HBIg khoảng 2 triệu đồng/mũi và chưa được bảo hiểm y tế chi trả thường quy).
- Quy mô mẫu theo dõi dọc từ lúc sinh (183 trẻ) đến khi trẻ đạt 12 tháng tuổi bị giảm xuống còn 150 trẻ do một số trường hợp mất dấu theo dõi hoặc gia đình thay đổi nơi cư trú.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng mô hình nghiên cứu và can thiệp giáo dục sức khỏe xuống mạng lưới y tế cơ sở (trung tâm y tế quận/huyện và trạm y tế xã/phường) để nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của phụ nữ mang thai tại cộng đồng.
- Tiếp tục theo dõi thuần tập dài hạn ở nhóm trẻ sau 12 tháng tuổi (đến 24 và 60 tháng tuổi) nhằm đánh giá mức độ tồn lưu kháng thể bảo vệ anti-HBs và hiệu quả bảo vệ lâu dài của vắc xin.
- Thực hiện các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế y tế nhằm cung cấp bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách đưa xét nghiệm tải lượng HBV-DNA và thuốc/huyết thanh dự phòng chu sinh vào danh mục được bảo hiểm y tế chi trả.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều đối tượng và lĩnh vực:
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên: Chuyên ngành Y tế công cộng, Dịch tễ học, Y học dự phòng, Sản phụ khoa, Nhi khoa và Truyền nhiễm có thể tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa mô tả cắt ngang, theo dõi dọc thuần tập và can thiệp giáo dục sức khỏe trước - sau.
- Bác sĩ lâm sàng và nữ hộ sinh tại các bệnh viện sản - nhi: Tham khảo cơ sở dữ liệu thực tế về các yếu tố nguy cơ lây truyền chu sinh, phác đồ điều trị TDF trong thai kỳ, quy trình phối hợp tiêm vắc xin VGB sơ sinh và HBIg, cùng các khuyến cáo về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và phương thức sinh.
- Nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Tham khảo số liệu thực tế tại địa phương để xây dựng hướng dẫn chuyên môn, kế hoạch hành động phòng chống viêm gan vi rút giai đoạn 2020-2030, mở rộng độ bao phủ tiêm chủng sơ sinh và nâng cao năng lực cho cán bộ y tế cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận thực trạng nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam và Hải Phòng qua các thời kỳ như thế nào?
Văn bản tổng hợp cho thấy tại Việt Nam, tỷ lệ mang HBsAg ở phụ nữ mang thai dao động từ 10% đến 20% (theo số liệu Bộ Y tế năm 2019). Các nghiên cứu đơn lẻ ghi nhận: Đinh Thị Bình (1996) ghi nhận 10,61%; Chu Thị Thu Hà (2006 tại Hà Nội) ghi nhận 12,5%; Đào Thị Mỹ Phượng (2013-2014 tại Bình Dương) ghi nhận 10,5%; nghiên cứu tại Khánh Hòa (2009-2012) ghi nhận 12,6%. Tại Hải Phòng, nghiên cứu năm 1994 của Nguyễn Thị Tuyết Nga ghi nhận tỷ lệ 12,59% ở sản phụ, và luận án tiến hành sàng lọc trên cỡ mẫu 1.721 phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng để cập nhật thực trạng này.
2. Những yếu tố vi rút học nào của người mẹ ảnh hưởng lớn nhất đến nguy cơ lây truyền HBV sang con?
Văn bản chỉ rõ hai yếu tố vi rút học quan trọng nhất là tình trạng kháng nguyên HBeAg dương tính và nồng độ tải lượng HBV-DNA cao trong máu mẹ vào 3 tháng cuối thai kỳ. Phụ nữ mang thai có HBeAg dương tính có nguy cơ lây truyền sang con từ 70% đến 90% nếu không can thiệp. Nồng độ HBV-DNA của mẹ lúc sinh vượt quá 200.000 IU/ml (hoặc > 10⁶ copies/ml) được EASL, APASL và luận án xác định là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nguy cơ lây truyền chu sinh và thất bại dự phòng miễn dịch ở trẻ.
3. Việc sử dụng thuốc kháng vi rút (TDF/Lamivudine) trong thai kỳ mang lại hiệu quả dự phòng ra sao?
Các nghiên cứu được luận án tổng quan (Celen MK, Greenup, Jourdain, Chen) và nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng (2014 tại Việt Nam) chứng minh rằng điều trị Tenofovir (TDF 300mg/ngày) hoặc Lamivudine từ tuần thứ 24-28 hoặc 32 của thai kỳ giúp giảm mạnh nồng độ HBV-DNA trong máu mẹ khi sinh, từ đó giảm tỷ lệ lây truyền HBV sang con xuống còn 0% - 2,4% (so với 8,3% - 20% ở nhóm chứng không điều trị). Hướng dẫn của Bộ Y tế theo Quyết định 5448/QĐ-BYT và Quyết định 3310/QĐ-BYT đã đưa TDF vào phác đồ điều trị dự phòng lây truyền mẹ - con khi tải lượng vi rút của mẹ cao.
4. Tiêm phối hợp vắc xin VGB và HBIg cho trẻ sơ sinh có ưu thế gì so với tiêm đơn độc vắc xin?
Văn bản chỉ ra rằng tiêm phối hợp vắc xin VGB sơ sinh (trong 24 giờ) và HBIg (trong 12 giờ) giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa lây truyền chu sinh lên gần 90-95%, đặc biệt ở nhóm trẻ sinh ra từ mẹ có HBeAg dương tính. Nghiên cứu của Zhang (Trung Quốc) cho thấy ở nhóm trẻ có mẹ HBeAg (+), tỷ lệ thất bại dự phòng khi dùng phối hợp vắc xin + HBIg là 7,9%, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chỉ tiêm đơn độc vắc xin (16,9%, p < 0,05). Tuy nhiên, nếu không có sẵn HBIg, việc tiêm vắc xin sơ sinh kịp thời kết hợp đủ loạt 3 mũi vắc xin vẫn mang lại hiệu quả bảo vệ từ 70% đến 84% (theo nghiên cứu của Milne tại Bình Định - Quy Nhơn).
5. Can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đã cải thiện những khía cạnh nào ở nhân viên y tế và thai phụ?
Khảo sát trước can thiệp cho thấy nhiều khoảng trống kiến thức: nhân viên y tế còn hạn chế trong việc tiếp cận quy trình chuẩn, chỉ định điều trị kháng vi rút thai kỳ và tập huấn chuyên môn; phụ nữ mang thai thiếu kiến thức về đường lây truyền và an toàn vắc xin. Can thiệp giáo dục sức khỏe của luận án đã làm tăng điểm số trung bình có ý nghĩa thống kê về kiến thức dịch tễ học, đường lây, quy trình chẩn đoán, phác đồ điều trị TDF, chỉ định sử dụng HBIg và vắc xin sơ sinh ở nhân viên y tế (n = 131), đồng thời nâng cao thái độ tích cực và thực hành tuân thủ dự phòng ở các bà mẹ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Y tế công cộng của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Linh đã phản ánh thực trạng mang vi rút viêm gan B ở phụ nữ mang thai và sự lây truyền sang con tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng giai đoạn 2017-2020. Công trình xác định rõ các yếu tố nguy cơ then chốt gồm tải lượng HBV-DNA cao và tình trạng HBeAg dương tính của người mẹ, đồng thời khẳng định vai trò của việc kết hợp điều trị thuốc kháng vi rút trong thai kỳ với tiêm chủng vắc xin và HBIg sơ sinh đúng thời điểm. Kết quả can thiệp giáo dục sức khỏe chứng minh tính khả thi và hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên y tế và cải thiện thực hành dự phòng của thai phụ, đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác kiểm soát và tiến tới loại trừ lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con.