Tài liệu: Thiệp bỏ điều trị methadone ở bệnh nhân nghiện các chất dạng

Chuyên khảo phân tích Thiệp bỏ điều trị methadone ở bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện tại hải phòng 2014 2016, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

243
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng bỏ điều trị Methadone ở bệnh nhân nghiện

Bỏ điều trị methadone là một vấn đề y tế công cộng quan trọng tại Việt Nam, đặc biệt ở thành phố Hải Phòng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thắm (2018), tỷ lệ bỏ điều trị trong 3 năm có xu hướng gia tăng đáng kể. Điều trị duy trì methadone (MMT) là phương pháp hiệu quả trong quản lý bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP), tuy nhiên tính tuân thủ vẫn là thách thức lớn. Các yếu tố như điều kiện kinh tế, hỗ trợ xã hội, và chất lượng dịch vụ y tế đều ảnh hưởng đến quyết định bỏ điều trị của bệnh nhân. Việc hiểu rõ thực trạng này giúp các cơ sở điều trị xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ hoàn thành điều trị.

1.1. Tỷ lệ bỏ điều trị trong 3 năm

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bỏ điều trị methadone tại Hải Phòng trong giai đoạn 2014-2016 đạt mức đáng quan tâm. Bệnh nhân bỏ điều trị sớm thường gặp phải các biến chứng nghiêm trọng bao gồm tái lây nhiễm HIV, lây truyền viêm gan C, và tăng nguy cơ tử vong do quá liều. Phân tích dữ liệu từ các cơ sở điều trị cho thấy mô hình bỏ điều trị không đều, với các giai đoạn cao điểm trong những tháng đầu và cuối năm.

1.2. Yếu tố liên quan đến bỏ điều trị

Nhiều yếu tố liên quan đến bỏ điều trị được xác định từ nghiên cứu. Bao gồm: đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng kinh tế - xã hội, mức độ hỗ trợ gia đình, và chất lượng dịch vụ điều trị methadone. Bệnh nhân có thu nhập thấp, thiếu sự ủng hộ từ gia đình, hoặc gặp phải kỳ thị xã hội có nguy cơ bỏ điều trị cao hơn. Ngoài ra, hiệu quả điều trị kém và các tác dụng phụ cũng là nguyên nhân quan trọng.

II. Giải pháp can thiệp tăng cường tuân thủ điều trị

Can thiệp tăng cường tuân thủ điều trị là những nỗ lực có tính hệ thống nhằm cải thiện sự cam kết của bệnh nhân với chương trình điều trị methadone. Các giải pháp can thiệp bao gồm hỗ trợ tâm lý, giáo dục sức khỏe, và hỗ trợ xã hội. Nghiên cứu tại Hải Phòng chứng minh rằng việc áp dụng các chiến lược can thiệp đa chiều có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ tuân thủ. Hỗ trợ từ đồng đẳng viêncán bộ y tế đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tham gia của bệnh nhân. Các cơ sở điều trị cần xây dựng môi trường hỗ trợ và không kỳ thị để bệnh nhân cảm thấy được chấp nhận.

2.1. Hỗ trợ từ đồng đẳng viên

Hỗ trợ đồng đẳng là những can thiệp mà bệnh nhân đã bỏ ma túy hoặc đang điều trị cung cấp cho các bệnh nhân khác. Hình thức này bao gồm giáo dục đồng đẳng (GDĐĐ) và tư vấn kinh nghiệm sống. Những người này có độ tin cậy cao vì hiểu sâu sắc thách thức và khó khăn. Kết quả cho thấy bệnh nhân nhận được hỗ trợ đồng đẳng có tuân thủ điều trị tốt hơn, giảm tái nghiện, và cải thiện chất lượng cuộc sống.

2.2. Hỗ trợ từ cán bộ y tế

Cán bộ y tế cung cấp tư vấn chuyên môn, quản lý thuốc, và theo dõi sức khỏe. Chất lượng tương tác giữa nhân viên cơ sở điều trị và bệnh nhân ảnh hưởng lớn đến quyết định tiếp tục điều trị. Can thiệp tăng cường tuân thủ từ y tế bao gồm tư vấn động lực, quản lý các tác dụng phụ, và xử trí các biến chứng. Đào tạo chuyên biệt cho cán bộ y tế về kỹ năng giao tiếptâm lý bệnh nhân giúp cải thiện hiệu quả can thiệp.

III. Hiệu quả can thiệp và tuân thủ điều trị

Hiệu quả can thiệp được đánh giá thông qua nhiều chỉ số bao gồm tỷ lệ tiếp tục điều trị, mức độ tuân thủ dùng thuốc, và cải thiện chất lượng cuộc sống. Các can thiệp tăng cường tuân thủ điều trị tại Hải Phòng đã cho thấy những kết quả khả quan. Chỉ số hiệu quả (CSHQ) của chương trình cho thấy sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân hoàn thành giai đoạn điều trị. Bệnh nhân nhận được can thiệp toàn diện bao gồm hỗ trợ y tế, tâm lý và xã hội có kết quả điều trị tốt hơn. Tuân thủ điều trị không chỉ liên quan đến việc uống thuốc định kỳ mà còn bao gồm tham gia các hoạt động hỗ trợ và duy trì quan hệ với nhân viên điều trị.

3.1. Tăng cường tuân thủ điều trị methadone

Tăng cường tuân thủ điều trị đòi hỏi phải giải quyết các rào cản cấu trúc, tâm lý và xã hội. Các biện pháp bao gồm: điều chỉnh liều lượng methadone phù hợp, tư vấn động lực học, giáo dục sức khỏe, và xây dựng kế hoạch điều trị cá nhân. Lịch trình linh hoạt, cung cấp các dịch vụ phụ trợ, và xây dựng quan hệ tín cậy giữa bệnh nhân và cán bộ y tế là chìa khóa. Can thiệp tâm lý xã hội giúp bệnh nhân vượt qua áp lực, tái hòa nhập xã hội.

3.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống

Cải thiện chất lượng cuộc sống (CLCS) là mục tiêu quan trọng của điều trị duy trì methadone. WHOQOL-BREF được sử dụng để đo lường các khía cạnh sức khỏe thể chất, tâm lý, mối quan hệ xã hội và môi trường. Bệnh nhân điều trị methadone thành công có chất lượng cuộc sống tốt hơn rõ rệt. Họ phục hồi khả năng làm việc, cải thiện mối quan hệ gia đình, giảm tái lây nhiễm HIVviêm gan C. Sự cân bằng giữa tuân thủ điều trịcải thiện CLCS tạo động lực bền vững cho bệnh nhân.

IV. Khuyến nghị và chiến lược phòng chống bỏ điều trị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần phải xây dựng chiến lược phòng chống bỏ điều trị methadone toàn diện. Các giải pháp can thiệp nên tập trung vào: nâng cao chất lượng dịch vụ, đào tạo nhân lực, xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội, và tăng cường giáo dục sức khỏe. Việc áp dụng hỗ trợ đồng đẳng trong các cơ sở điều trị methadone đã chứng minh hiệu quả. Cần thiết lập các chỉ tiêu hiệu quả rõ ràng và theo dõi định kỳ. Hợp tác giữa ngành y tế, xã hội và cơ sở địa phương là cần thiết. Công tác phòng chống ma túy hiệu quả phải bao gồm cả điều trị và tái hòa nhập xã hội.

4.1. Nâng cao chất lượng dịch vụ điều trị

Nâng cao chất lượng dịch vụ điều trị bao gồm cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, và khả năng cung cấp dịch vụ điều trị methadone liên tục. Các cơ sở điều trị cần có nhân viên đủ, được đào tạo chuyên biệt về quản lý bệnh nhân nghiện. Quy trình tuyển chọn, theo dõi lâu dài và điều chỉnh điều trị phải tuân theo hướng dẫn quốc tế. Hệ thống quản lý thông tin hiệu quả giúp theo dõi tiến trình điều trị và dự báo bỏ điều trị.

4.2. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội

Xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội giúp bệnh nhân tái hòa nhập cộng đồng. Bao gồm: hỗ trợ việc làm, giáo dục, và nhà ở. Các tổ chức xã hội dân sự, gia đình, và cộng đồng địa phương cần tham gia. Giáo dục cộng đồng về bệnh nghiện là biện pháp giảm kỳ thị. Các chương trình tái hòa nhập xã hội và hỗ trợ tâm lý sau bỏ điều trị giúp ngăn tái nghiện. Sự hợp tác giữa các cơ sở điều trị và cộng đồng tạo nên hệ thống chăm sóc toàn diện.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) đứng đầu danh sách các chất gây ra các vấn đề về gánh nặng bệnh tật và liên quan đến tử vong [151]. Điều này là do mối quan hệ giữa sử dụng ma túy với sức khỏe tâm thần [117], tiêm chích ma túy, HIV/AIDS [61, 154], viêm gan [98, 141] và tử vong do quá liều [43, 69, 163]. Trƣớc đây, Việt Nam có các hình thức cai nghiện tại cộng đồng, gia đình và các trung tâm chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội với biện pháp bắt buộc và tự nguyện. Tuy nhiên, tỷ lệ tái nghiện cao (>90%) sau hết thời gian cai nghiện khoảng 2 năm [31].

Năm 2008, Việt Nam thí điểm chƣơng trình điều trị nghiện các CDTP bằng methadone tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh [32]. Chƣơng trình thí điểm cho thấy điều trị methadone rất hiệu quả trong việc kiểm soát nghiện heroin và đƣợc chấp thuận để mở rộng dịch vụ ra các tỉnh, thành khác trong cả nƣớc [32]. Năm 2013, chính phủ Việt nam phê duyệt đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 [26]. Đến 3/2017 cả nƣớc có 280 cơ sở methadone tại 63 tỉnh, thành phố, điều trị cho 51.318 ngƣời bệnh [10].

Lợi ích của điều trị methadone: giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp; giảm lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C; giảm tử vong do tiêm chích quá liều; cải thiện chất lƣợng cuộc sống (CLCS) của ngƣời nghiện; cải thiện mối quan hệ của ngƣời nghiện với gia đình và cộng đồng; giảm các hành vi phạm tội [78] và tiết kiệm chi phí cho các vấn đề khác phát sinh nhƣ vấn đề pháp luật, y tế. Để đạt đƣợc thành công này đòi hỏi bệnh nhân cần tuân thủ điều trị theo quy định của chƣơng trình điều trị [5, 6]. Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dƣợc lý tƣơng tự các CDTP khác (đồng vận) nhƣ heroin [6]. Do vậy, khi bệnh nhân nghiện các -2- CDTP đƣợc điều trị bằng methadone ở liều thỏa đáng, bệnh nhân sẽ không còn có nhu cầu sử dụng heroin.

Ngƣợc lại, tuân thủ kém hay liều methadone không thỏa đáng có thể làm tăng đáng kể nguy cơ sử dụng ma túy bất hợp pháp và dẫn đến thất bại điều trị [76]. Bệnh nhân đến cơ sở uống thuốc hàng ngày là tiêu chí quan trọng để đánh giá tuân thủ điều trị [5, 6]. Tuân thủ kém có thể làm tăng đáng kể nguy cơ tái nghiện và dự đoán thất bại điều trị [76]. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thấp [80, 125, 140, 166], giảm dần theo thời gian tham gia điều trị [1, 76, 87, 125, 159] và phụ thuộc nhiều vào các hoạt động hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị từ phía cơ sở điều trị, gia đình, bạn bè, ngƣời cùng uống methadone và xã hội [5, 6].

Mô hình điều trị methadone hiện nay đã có trên cả nƣớc [10] và ngày càng đƣợc mở rộng [26], do vậy nghiên cứu thực trạng tuân thủ điều trị, nhất là bỏ điều trị ở bệnh nhân điều trị methadone ổn định cũng nhƣ tìm các yếu tố liên quan đến bỏ điều trị là vấn đề cần thiết để từ đó xây dựng các biện pháp can thiệp nhằm tăng cƣờng tuân thủ điều trị và hiệu quả của chƣơng trình. Vấn đề đặt ra là thực trạng bỏ điều trị methadone của bệnh nhân tại Hải phòng hiện nay nhƣ thế nào? Yếu tố nào liên quan đến tình trạng bỏ điều trị methadone tại Hải phòng? Giải pháp can thiệp giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng tại Hải Phòng có hiệu quả nhƣ thế nào? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp can thiệp bỏ điều trị methadone ở bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện tại Hải Phòng, 2014 - 2016” với mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng bỏ điều trị methadone tại Hải Phòng năm 2014-2015 2. Đánh giá hiệu quả truyền thông giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng tại cơ sở điều trị methadone -3- Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.

Thực trạng sử dụng ma túy trên thế giới và Việt nam. Trên thế giới. Đến năm 2013, Văn phòng liên hiệp quốc về ma túy và tội phạm (UNODC) ƣớc tính, trên thế giới có 246 triệu ngƣời, hoặc cứ 20 ngƣời có một ngƣời sử dụng một loại ma túy trái phép ở độ tuổi từ 15 đến 64 tuổi. Tƣơng đƣơng 5,2% dân số sử dụng ma túy.

Có khoảng 27 triệu ngƣời hoặc 0,6% dân số trong độ tuổi từ 15 đến 64 sử dụng ma túy có vấn đề bao gồm các rối loạn do sử dụng ma túy và sự lệ thuộc vào ma túy [151]. Mức độ sử dụng ma túy bất hợp pháp khác nhau theo giới tính và các quốc gia [152]. Số lƣợng ngƣời sử dụng ma túy (triệu ngƣời) Tỷ lệ trong dân số chung 14-65 tuổi (%) Số lƣợng sử dụng ma túy Tỷ lệ sử dụng ma túy có vấn đề (%) Số lƣợng sử dụng ma túy có vấn đề Tỷ lệ sử dụng ma túy (%) Hình 1.1: Số lƣợng và tỷ lệ ngƣời sử dụng ma túy bất hợp pháp năm 2006- 2013 [151] Mặc dù việc sử dụng các CDTP trên thế giới nói chung ổn định. Nhƣng tại châu Mỹ và châu Âu, việc sử dụng cocain đã giảm trong khi việc sử dụng cần sa và opioid ngoài mục đích y tế tiếp tục tăng.

Việc sử dụng chất kích thích loại Amphetamine (ATS) thay đổi tùy vùng, một số khu vực nhƣ Đông Nam Á đã báo cáo gia tăng tình trạng sử dụng methamphetamine. Các chất hƣớng thần mới (NPS) đƣợc bán trên thị trƣờng thay thế cho các loại thuốc bị -4- kiểm soát và các ma túy truyền thống. Nó có tiềm năng gây nguy hiểm nghiêm trọng đến sức khỏe và an toàn xã hội. Các thông tin và nghiên cứu về tác hại của các chất hƣớng thần mới còn giới hạn, nhƣng ƣớc tính có khoảng 500 loại, bao gồm cả mephedrome, đặt ra mối đe dọa cho sức khỏe ngƣời sử dụng ma túy và tăng nhu cầu điều trị nghiện các chất hƣớng thần mới.

Mức độ sử dụng ma túy có vấn đề - những ngƣời sử dụng thƣờng xuyên hoặc nghiện - là 27 triệu ngƣời [151]. Ma tuý nhóm Opioids (chất dạng thuốc phiện): là những chất có nguồn gốc thuốc phiện và những chất có đặc điểm dƣợc lý tƣơng tự thuốc phiện (Opiates), bao gồm: thuốc phiện, Morphin, Heroin, Codein, Pethidin, Buprenorphin, Methadone, Levo- alpha- acetyl-methadon (LAAM).1: Ƣớc tính sử dụng các loại ma túy trên toàn cầu, năm 2013 [151] Tỷ lệ % ngƣời dân Số lƣợng ngƣời sử sử dụng ma túy dụng ma túy (nghìn) Thấp Cao Thấp Cao Cần xa 2,7 4,9 128,480 232,070 Opioids 0,6 0,8 27,990 37,560 Opiaids 0,3 0,4 12,920 20,460 Cocain 0,3 0,4 12800 20,730 Amphetamines 0,3 1,1 13.870 53,870 Ecstasy 0,2 0,6 9,340 28,390 Tất cả ma túy bất hợp pháp 3,4 7,0 162,000 329,000 Năm 2014, ƣớc tính khoảng 32,4 triệu ngƣời sử dụng các CDTP tƣơng ứng với 0,7% dân số thế giới, chỉ đứng thứ hai sau cần sa [151]. Ở các nƣớc châu Á, hàng năm có 1,9% số ngƣời ở độ tuổi 15-64 tuổi sử dụng cần sa, tiếp theo là ATS (không bao gồm "thuốc lắc") là 0,7%, "thuốc lắc" 0,4 %, thuốc phiện 0,35% và cocain 0,05% [152]. Tại Việt Nam Năm 2015, Chính phủ thống kê có 201.180 ngƣời nghiện ma túy có hồ sơ quản lý [14].

Số ngƣời sử dụng ma túy thực tế sẽ cao hơn số liệu thống kê đƣợc vì còn nhiều ngƣời sử dụng ma túy không bộc lộ tình trạng của bản thân với gia đình và /hoặc xã hội [4]. Trong đó chủ yếu là nam giới (94%), dƣới 30 tuổi (70%). Ma túy đƣợc ghi nhận có 4 nhóm: heroin, thuốc phiện, Canabis và Amphetamine loại ATS, nhƣng sử dụng nhiều nhất là heroin (70%) và chủ yếu sử dụng qua đƣờng tiêm chích. Có khoảng 65% tổng số ngƣời nghiện ma túy là sử dụng qua đƣờng tiêm chích, tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm này là 42%.

Ngƣời nghiện ma túy đã có trên 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phƣờng, thị trấn trên cả nƣớc. Loại ma túy đƣợc sử dụng và hình thức sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi phức tạp. Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trƣớc đây, heroin hiện là loại ma túy đƣợc sử dụng chủ yếu ở Việt Nam, có tới 96,5% ngƣời nghiện thƣờng xuyên sử dụng heroin trƣớc khi tham gia cai nghiện. Mặc dù tỷ lệ ngƣời nghiện CDTP và các chất kích thích dạng Amphetamine (ATS hay ma túy tổng hợp) tƣơng đƣơng nhau, khoảng 1,2% - 1,4% nhƣng theo đánh giá của UNODC, việc lạm dụng ATS, đặc biệt là Methamphetamine, đang có xu hƣớng gia tăng trong ngƣời nghiện ma túy tại Việt Nam, nhất là khi Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á là khu vực chiếm ½ số ngƣời lạm dụng loại ma túy này trên toàn thế giới.

Việc gia tăng lạm dụng các loại ma túy tổng hợp khiến cho công tác phòng ngừa và cai nghiện phục hồi cho nhóm ngƣời nghiện ma túy gặp rất nhiều khó khăn [155]. Nhƣ vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hƣớng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại -6- ma túy mới, hình thức sử dụng ma túy không an toàn làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV. Tác động đến sức khỏe, gia đình và xã hội 1. Tác động đến sức khỏe của người sử dụng ma túy Có hàng triệu ngƣời TCMT khắp thế giới.

Trong số những ngƣời sử dụng ma túy, ngƣời TCMT là một trong những nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thƣơng. Họ thƣờng khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ y tế, kinh tế xã hội và pháp luật, không ít trong số họ có nguy cơ tử vong cao hơn so với dân số nói chung. UNODC, Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chƣơng trình HIV/AIDS của liên hiệp quốc (UNAIDS) và Ngân hàng thế giới (WB) ƣớc tính năm 2013 trên toàn thế giới có khoảng 12.000 ngƣời TCMT, tƣơng đƣơng với 0,26% dân số ở lứa tuổi từ 15-64 [151].2: Ƣớc tính số lƣợng và tỷ lệ ngƣời TCMT trong dân số chung ở độ tuổi 15-64 [151] Người tiêm chích ma túy Vùng Số lượng ước tính Tỷ lệ % Tiểu vùng Trung Trung Thấp Cao Thấp Cao bình bình Châu Phi 330.000 0,56 0,65 0,75 Mỹ la tinh và Caribean 370.000 0,12 0,16 0,21 Trung tâm Châu Á 360.000 0,66 0,75 0,87 Đông và Đông Nam Á 2.000 0,45 0,67 1,02 Đông và Đông Nam Âu 1.000 0,78 1,27 2,09 Tây và trung tâm Âu 710.000 0,22 0,24 0,26 Châu Đại Dương 120.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ