Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức (Hà Tây) từ năm 1991 đến năm 2008" do nghiên cứu sinh Phan Thị Lệ Dung thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Am, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9.13), bảo vệ năm 2020.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới từ năm 1986, việc phát triển kinh tế - xã hội ở cấp huyện giữ vai trò giải quyết các vấn đề căn bản của địa phương, đồng thời củng cố tiềm lực cho cấp tỉnh và cả nước. Mỹ Đức là một huyện bán sơn địa nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hà Tây (cũ), giữ vị trí bản lề chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và vùng núi rừng Tây Bắc, đồng thời là địa bàn thuộc vùng phân lũ. Tháng 10 năm 1991, sau khi tỉnh Hà Sơn Bình được chia tách thành hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, huyện Mỹ Đức trực thuộc quyền quản lý của tỉnh Hà Tây cho đến thời điểm hợp nhất địa giới hành chính vào Thủ đô Hà Nội vào năm 2008.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới hoặc lịch sử tỉnh Hà Tây, song trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về tiến trình chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức trong suốt giai đoạn lịch sử 1991 - 2008. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhằm đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế, chỉ ra những nét đặc thù của địa phương, cung cấp cứ liệu khoa học cho công tác quy hoạch phát triển và biên soạn lịch sử địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục đích nghiên cứu chính:
- Làm rõ bối cảnh lịch sử và những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, truyền thống tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008.
- Trình bày trung thực, hệ thống những chuyển biến về kinh tế (theo cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần, cơ cấu vùng) và xã hội (dân số, lao động, việc làm, xóa đói giảm nghèo, văn hóa - giáo dục - y tế, chính sách xã hội) của huyện Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008.
- Rút ra các nhận xét, đánh giá về đặc điểm chuyển biến kinh tế - xã hội, phân tích tiềm năng, xu hướng và những vấn đề đặt ra, tạo cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển của địa phương trong các giai đoạn tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, ba nhiệm vụ cụ thể được đặt ra:
- Trên cơ sở phân tích điều kiện tự nhiên, cơ sở kinh tế, dân cư và truyền thống lịch sử, làm rõ các nhân tố tác động đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức giai đoạn 1991 - 2008.
- Tái hiện một cách khách quan, hệ thống diện mạo chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức qua hai giai đoạn (1991 - 1996 và 1996 - 2008); làm rõ thành tựu, hạn chế và lý giải nguyên nhân.
- Bước đầu đúc kết một số đặc điểm chủ yếu của quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội tại địa phương làm tài liệu tham khảo cho công tác lãnh đạo, quản lý hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức (tỉnh Hà Tây) từ năm 1991 đến năm 2008.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa giới hành chính huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Tây trong giai đoạn 1991 - 2008, bao gồm 1 thị trấn: thị trấn Đại Nghĩa (Tế Tiêu) và 21 xã: Phúc Lâm, Mỹ Thành, Đốc Tín, Vạn Kim, Đồng Tâm, Thượng Lâm, Tuy Lai, Bột Xuyên, An Mỹ, Hồng Sơn, Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Hợp Tiến, Phù Lưu Tế, Hợp Thanh, Đại Hưng, An Tiến, An Phú, Hùng Tiến, Hương Sơn. Luận án cũng mở rộng so sánh với một số địa phương lân cận trong tỉnh Hà Tây như huyện Ứng Hòa, Chương Mỹ.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 10 năm 1991 (thời điểm tái lập tỉnh Hà Tây) đến tháng 8 năm 2008 (thời điểm toàn bộ tỉnh Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của Quốc hội). Luận án chia thành hai giai đoạn phân kỳ: 1991 - 1996 (giai đoạn vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội) và 1996 - 2008 (giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa). Đồng thời, tác giả khảo sát tình hình trước năm 1991 (từ năm 1976 khi thuộc tỉnh Hà Sơn Bình) để làm rõ bối cảnh xuất phát điểm.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chuyển biến kinh tế theo ba khía cạnh: cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế; chuyển biến xã hội trên các bình diện: dân số, lao động - việc làm, xóa đói giảm nghèo, giáo dục - đào tạo, văn hóa - thể thao, y tế - chăm sóc sức khỏe và thực hiện trợ giúp xã hội cho các đối tượng chính sách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân chia và khảo sát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới
Nhóm này cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp tiếp cận và bức tranh tổng thể về quá trình đổi mới của cả nước:
- Về chủ trương đổi mới và cơ chế quản lý: Tác phẩm "Đổi mới đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại" của Trường Chinh (1987) chỉ ra sai lầm của cơ chế quản lý bao cấp trước 1986 và định hướng bố trí lại cơ cấu kinh tế. Tác phẩm của Nguyễn Duy Quý (2009) phân tích quá trình chuyển đổi tư duy kinh tế sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Lê Ngọc Tòng (2005) và Lê Quang Phi (2007) khảo sát sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nguyễn Văn Thường (2007) tổng kết 20 năm đổi mới trên các mặt kinh tế, giáo dục và an sinh xã hội. Công trình của Ban Kinh tế Trung ương (2016) và Vũ Văn Phúc (2017) phân tích quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
- Về kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Nguyễn Ngọc Hà (2012) nghiên cứu đường lối kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1986 - 2011; Nguyễn Văn Khanh (2003) phân tích biến đổi ruộng đất và kinh tế nông nghiệp châu thổ sông Hồng; Đỗ Hoài Nam (1993, 1996) nghiên cứu thực trạng các thành phần kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; Vũ Đình Bách (2001, 2013) nghiên cứu kinh tế nhà nước và kinh tế vĩ mô; Phạm Thị Lương Diệu (2012) nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân; Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Văn Phú (2006), Lê Thu Hoa (2007) tiếp cận lý thuyết phát triển kinh tế vùng; Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng (2003) phân tích cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng; Đỗ Thị Thanh Loan (2016) nghiên cứu nông nghiệp đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hội nhập; Phạm Thị Khanh (2010) bàn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững.
- Về các vấn đề xã hội và mối quan hệ giữa kinh tế với xã hội: Trần Nguyễn Tuyên (2010) luận giải mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Đỗ Nguyên Phương và Trần Xuân Kiên (2010) nghiên cứu cơ cấu xã hội và các vấn đề bức xúc; Nguyễn Văn Mạnh (2010) xem xét vai trò quản lý của Nhà nước đối với phát triển xã hội; Nguyễn Thọ Khang và Bùi Thị Kim Hậu phân tích thực trạng giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách; Nguyễn Đình Lê (2017) phân tích tác động qua lại giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội Việt Nam từ 1986 đến 2000. Các luận án tiến sĩ của Phạm Đức Kiên (2011), Lê Nhị Hòa (2012), Lê Quang Phi (2012) khảo cứu các khía cạnh an sinh, quốc phòng và công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn.
Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tây
Các tài liệu về địa phương phản ánh bối cảnh cụ thể mà huyện Mỹ Đức là một bộ phận hợp thành:
- Tài liệu lưu trữ "4 năm xây dựng kinh tế văn hóa của tỉnh Hà Tây (1969 - 1972)" do Chi cục Thống kê Hà Tây xuất bản năm 1973 cung cấp các chỉ tiêu tổng hợp kinh tế quốc dân, địa lý và dân số trước thời kỳ hợp nhất Hà Sơn Bình.
- Cuốn sách "Hà Tây thế và lực mới trong thế kỷ XXI" (Nxb Chính trị quốc gia, 2004) làm rõ vị thế các ngành kinh tế trọng điểm, làng nghề, du lịch của tỉnh giai đoạn 2000 - 2005.
- Bộ sách đồ sộ "Địa chí Hà Tây" do Đặng Văn Tu và Nguyễn Tá Nhí đồng chủ biên (2011) hệ thống hóa các điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội của tỉnh.
- Các ấn phẩm chuyên khảo và kỷ yếu: "Hà Tây - làng nghề - làng văn" (1994), "Di tích Hà Tây" (1999), "Văn hóa Hà Tây" (2005); các bài viết của Khuất Hữu Sơn (2000), Nguyễn Công Tít (2000) trên Tạp chí Ngoại thương. Các luận án kinh tế của Lê Mạnh Hùng (2005) về tiểu thủ công nghiệp và Đỗ Quang Dũng (2006) về phát triển làng nghề tại Hà Tây.
- Về riêng địa bàn huyện Mỹ Đức: Dữ liệu phân tán chủ yếu trong các báo cáo tổng kết năm, niên giám thống kê của Huyện ủy, HĐND, UBND, Chi cục Thống kê huyện và 4 cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Đức cùng lịch sử Đảng bộ của 22 xã, thị trấn được biên soạn từ năm 1988 đến năm 2016.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tư liệu cho thấy các nghiên cứu đi trước đạt được những kết quả nhất định nhưng bộc lộ ba khoảng trống cơ bản:
- Đa số công trình tiếp cận từ góc độ kinh tế học, địa lý học hoặc chính trị học; thiếu các nghiên cứu lịch sử chuyên sâu tái hiện một cách hệ thống, liên tục tiến trình chuyển biến kinh tế - xã hội ở một huyện bán sơn địa cụ thể như Mỹ Đức trong toàn bộ khung thời gian 1991 - 2008.
- Nguồn tư liệu về kinh tế - xã hội huyện Mỹ Đức từ năm 2000 đến năm 2008 hầu như chỉ dừng lại ở các báo cáo hành chính, số liệu thống kê rời rạc, chưa được xử lý, phân tích dưới góc độ sử học.
- Chưa có công trình nào đánh giá khách quan, toàn diện về vị trí, đặc điểm, đóng góp của huyện Mỹ Đức đối với tỉnh Hà Tây, cũng như làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và sự tham gia của nhân dân địa phương trong việc giải quyết các thách thức đặc thù (vùng phân lũ, địa hình chiêm trũng, xa trục giao thông lớn).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, đường lối và nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, cũng như quan điểm gắn kết tăng trưởng kinh tế với công bằng, tiến bộ xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Tái hiện tiến trình vận động khách quan của các sự kiện kinh tế - xã hội theo trật tự thời gian từ năm 1991 đến năm 2008, đồng thời phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả giữa các giai đoạn và giữa chuyển biến kinh tế với biến đổi xã hội.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu: Đánh giá các chỉ tiêu kinh tế, dân số, lao động giữa các thời kỳ (trước 1991, 1991 - 1996, 1996 - 2008); so sánh đối chiếu giữa huyện Mỹ Đức với huyện đồng bằng lân cận (Ứng Hòa) và với bình quân chung của tỉnh Hà Tây.
- Phương pháp thống kê toán học: Thu thập, xử lý và lập các bảng biểu thống kê về diện tích, sản lượng cây trồng, đàn vật nuôi, cơ cấu giá trị sản xuất, số lượng cơ giới hóa, cơ cấu lao động và cơ cấu GDP.
- Phương pháp điền dã lịch sử: Tiến hành khảo sát thực địa tại các xã thuộc huyện Mỹ Đức, kiểm chứng, xác minh tư liệu thành văn thông qua khảo sát thực tế tại các di tích, làng nghề, công trình thủy lợi và phỏng vấn các nhân chứng, cán bộ địa phương.
Nguồn tư liệu
Luận án khai thác hệ thống tư liệu bao gồm:
- Các văn kiện, nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước.
- Báo cáo chính trị, nghị quyết đại hội, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội định kỳ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà Tây và Huyện ủy, UBND huyện Mỹ Đức (1991 - 2008).
- Số liệu trong các Niên giám thống kê do Chi cục Thống kê tỉnh Hà Tây và Chi cục Thống kê huyện Mỹ Đức xuất bản qua các năm.
- Tư liệu báo chí địa phương, đặc biệt là nguồn báo Hà Tây từ năm 1991 đến năm 2007 lưu trữ tại phòng Ngoại văn - Thư viện Hà Nội.
- Các công trình lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Đức và lịch sử Đảng bộ của 22 xã, thị trấn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá hai nhóm công trình khoa học lớn: nhóm nghiên cứu về kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới và nhóm nghiên cứu về địa phương tỉnh Hà Tây, huyện Mỹ Đức. Tác giả phân tích những nội dung đã được giải quyết ở bình diện vĩ mô của cả nước và tỉnh Hà Tây, chỉ rõ các nghiên cứu về Mỹ Đức trước đó chủ yếu tồn tại dưới dạng báo cáo hàng năm hoặc tài liệu lịch sử Đảng bộ địa phương có dung lượng hạn chế. Chương này xác định rõ tính tất yếu của việc thực hiện một công trình lịch sử kinh tế - xã hội độc lập, chuyên sâu cho huyện Mỹ Đức giai đoạn 1991 - 2008, đồng thời vạch rõ các nhiệm vụ khoa học mà đề tài cần tập trung giải quyết.
Chương 2: Khái quát về huyện Mỹ Đức và sự chuyển biến kinh tế, xã hội tại địa phương từ năm 1991 đến năm 1996
1. Yếu tố tác động đến chuyển biến kinh tế - xã hội
- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Mỹ Đức nằm ở cực Tây Nam tỉnh Hà Tây, điểm cực Nam thuộc xã Hương Sơn (tọa độ 22°33’B, 105°22’Đ); giáp huyện Chương Mỹ ở phía Bắc, tỉnh Hà Nam ở phía Nam, tỉnh Hòa Bình ở phía Tây và huyện Ứng Hòa ở phía Đông qua ranh giới tự nhiên là sông Đáy. Địa hình mang tính chất bán sơn địa, bản lề chuyển tiếp giữa đồng bằng và vùng núi đá vôi. Mỹ Đức thuộc vùng phân lũ của Hà Tây; diện tích đất bị glây hóa và ngập úng thường xuyên chiếm tới 26,04% tổng diện tích tự nhiên, đất ngập và nửa ngập nước chiếm 23,32%, đất phù sa màu mỡ chiếm 24,94%. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, phân chia thành hai mùa mưa - khô rõ rệt. Mạng lưới sông suối gồm sông Đáy (dài 48 km), sông đào Mỹ Hà (dài hơn 3 km), suối Yến (3 km), suối Long Vân, Tuyết Sơn và các hồ chứa nước lớn (Quan Sơn, Tuy Lai, Vĩnh An). Về tài nguyên, huyện có 350 loài thực vật thuộc 92 họ, 88 loài chim, 35 loài bò sát; trữ lượng than bùn ước tính khoảng 100 triệu tấn tại 10 xã miền núi, đá vôi khoảng 600 triệu m³ kéo dài trên 40 km từ Đồng Tâm đến Hương Sơn, cùng nhiều mỏ đất sét công nghiệp.
- Đặc điểm dân cư và truyền thống: Khoảng 70% dân số tập trung tại dải bãi cao ven sông Đáy (từ Phúc Lâm đến Đốc Tín). Cư dân chủ yếu là người Kinh, có một bộ phận đồng bào Mường sinh sống tại xã An Phú (trước năm 1948 hai huyện Cao Dương và My Sơn thuộc Mỹ Đức cũng có người Mường nhưng sau đó cắt chuyển về Hòa Bình). Huyện có truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời, tiêu biểu là các di tích đình Bột Xuyên, đình Phúc Khê, đền Kim Bôi, đình Thượng Tiết; quần thể thắng cảnh chùa Hương (gồm 11 chùa, đền gắn với danh hiệu "Nam thiên đệ nhất động" do Chúa Trịnh Sâm đề tặng); truyền thống hiếu học khoa bảng tại làng Lê Xá (xã Lê Thanh) với Hoàng giáp Nguyễn Công Khuê (1710) và Tiến sĩ Nguyễn Kỳ Nhậm (1733); truyền thống làng nghề dệt Phùng Xá, thêu Đại Nghĩa.
2. Tình hình kinh tế - xã hội trước năm 1991
Trong thời kỳ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình (1976 - 1991), cơ sở kinh tế của huyện phát triển dựa trên kinh tế tập thể và quốc doanh nhưng gặp nhiều trở ngại do cơ chế kế hoạch hóa tập trung và thiên tai úng lụt. Năm 1976, toàn huyện Mỹ Đức gieo trồng 15.685 ha cây hàng năm (lúa chiếm 14.188 ha, rau đậu 759 ha, cây công nghiệp 738 ha). Trang thiết bị phục vụ nông nghiệp thời điểm này rất thiếu thốn:
| Loại máy móc |
Tỉnh Hà Sơn Bình |
Huyện Mỹ Đức |
| Máy phát điện |
39 |
0 |
| Động cơ điện |
730 |
0 |
| Động cơ Điezen |
2.082 |
37 |
| Máy nghiền thức ăn gia súc |
172 |
0 |
| Cày theo công nông |
224 |
11 |
Về chăn nuôi năm 1976, đàn trâu của huyện xếp thứ 13/24 huyện thị trong tỉnh Hà Sơn Bình; lợn sữa xếp thứ 4/24; chim bồ câu xếp thứ 4/24.
Để khắc phục úng ngập vùng trũng, Huyện ủy phát động "Chiến dịch 19-5" (năm 1976) huy động hơn 10.000 lao động đắp đập Vĩnh An, Vân Mộng, cơi đê sông Mỹ Hà. Năm 1980 tiếp tục hoàn thành trạm bơm Phú Yên (10 máy bơm điện) bảo đảm tiêu úng cho gần 1.000 ha lúa tại Hương Sơn, quy hoạch bờ vùng bờ thửa, đào mương tiêu Đồng Tâm - Phúc Lâm dài 4 km dẫn nước ra sông Đáy.
Về quản lý kinh tế nông nghiệp, huyện thực hiện Chỉ thị 100 (1981) qua Nghị quyết 22 Huyện ủy, triển khai Quyết định 188 (1987) của Tỉnh ủy và thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4-1988), chọn xã Lê Thanh làm điểm khoán đến hộ gia đình. Nhờ đó, có 96% số hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài. Năm 1988, diện tích cây lương thực đạt 18.099 ha, năng suất lúa cả năm đạt 53,8 tạ/ha, sản lượng hai năm 1989 - 1990 đạt 48.000 - 55.013 tấn. Tuy vậy, khi so sánh với huyện lân cận là Ứng Hòa, sản xuất lương thực của Mỹ Đức vẫn ở mức thấp hơn rõ rệt:
| Chỉ tiêu so sánh |
Năm |
Huyện Ứng Hòa |
Huyện Mỹ Đức |
| Sản lượng lương thực quy thóc |
1985 |
47.081 tấn |
31.218 tấn |
| Sản lượng hoa màu lương thực quy thóc |
1985 |
2.413 tấn |
3.165 tấn |
| Diện tích lúa cả năm |
1985 |
20.220 ha |
14.303 ha |
| Sản lượng lúa cả năm |
1985 |
44.670 tấn |
28.053 tấn |
| Diện tích ngô cả năm |
1985 |
524 ha |
561 ha |
| Diện tích ngô cả năm |
1990 |
1.169 ha |
647 ha |
| Sản lượng ngô cả năm |
1985 |
1.658 tấn |
1.263 tấn |
| Diện tích khoai tây cả năm |
1985 |
141 ha |
122 ha |
| Diện tích khoai tây cả năm |
1990 |
876 ha |
632 ha |
Về tiểu thủ công nghiệp trước 1991, sau Nghị quyết 29 Huyện ủy (năm 1978), giá trị sản xuất thủ công nghiệp đạt 4.048 đồng vào năm 1976 (hàng xuất khẩu chiếm 17,3%), hình thành nghề dệt Phùng Xá, thêu Đại Nghĩa, mây tre đan Tuy Lai, chế biến bột dong Hương Sơn. Về thương nghiệp, mạng lưới 7 chợ truyền thống (như chợ Phủ, chợ Thá...) họp phiên so le theo lịch âm đáp ứng nhu cầu trao đổi sản vật thiết yếu của cư dân.
3. Chuyển biến giai đoạn 1991 - 1996
Sau khi tái lập tỉnh Hà Tây (tháng 10-1991), Đảng bộ và chính quyền huyện Mỹ Đức chỉ đạo thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và các nghị quyết của Tỉnh ủy Hà Tây. Giai đoạn 1991 - 1995 ghi nhận bước chuyển quan trọng: nông nghiệp chuyển dần từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa; năng suất lúa và sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày tăng lên; chăn nuôi trâu, bò, lợn và nuôi trồng thủy sản bắt đầu phát triển thành ngành sản xuất chính; tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch lễ hội Chùa Hương bắt đầu có bước khởi sắc; đời sống nhân dân từng bước ổn định, huyện cơ bản thoát khỏi tình trạng thiếu đói gay gắt trước đây.
Chương 3: Chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức từ năm 1996 đến năm 2008
1. Chuyển biến về kinh tế
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), huyện Mỹ Đức thực hiện chuyển đổi kinh tế theo chiều sâu:
- Cơ cấu ngành kinh tế: Tỷ trọng nông nghiệp từng bước giảm, tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ - du lịch tăng lên. Trong nông nghiệp, huyện thực hiện chính sách dồn ô đổi thửa, chuyển đổi đất trũng cấy lúa bấp bênh sang mô hình kinh tế trang trại kết hợp lúa - cá - vịt (đến ngày 30/7/2007 toàn huyện hình thành hệ thống trang trại tập trung). Sản lượng lương thực giữ mức ổn định giai đoạn 1995 - 2005; ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh giai đoạn 2006 - 2008. Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (khai thác đá vôi, nung vôi, sản xuất gạch ngói) và các làng nghề truyền thống (dệt may Phùng Xá, thêu ren) được mở rộng. Ngành dịch vụ và du lịch thắng cảnh Hương Sơn, Quan Sơn đem lại nguồn thu ngân sách đáng kể.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: Thành phần kinh tế tập thể (hợp tác xã) được chuyển đổi mô hình theo Luật Hợp tác xã; kinh tế hộ gia đình và kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, chiếm tỷ trọng chi phối trong GDP của huyện. Kinh tế nhà nước tập trung vào các công trình hạ tầng và quản lý tài nguyên.
- Cơ cấu vùng kinh tế: Hình thành rõ rệt 3 vùng kinh tế sinh thái: vùng bãi ven sông Đáy (phát triển cây màu, dâu tằm, lúa năng suất cao, tiểu thủ công nghiệp làng nghề); vùng đồng chiêm trũng giữa huyện (chuyên canh lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, phát triển trang trại); vùng bán sơn địa phía Tây (phát triển kinh tế vườn rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, khai thác khoáng sản và phát triển du lịch sinh thái, tâm linh).
- Hạ tầng và đầu tư: Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng đều qua các giai đoạn 1995 - 2005, hoàn thiện mạng lưới giao thông liên xã và hệ thống lưới điện nông thôn.
2. Chuyển biến về xã hội
- Dân số, lao động và việc làm: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm qua các năm từ 1996 đến 2008. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực: tỷ lệ lao động thuần nông giảm dần, tỷ lệ lao động tham gia công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và xuất khẩu lao động tăng lên (thể hiện rõ qua cơ cấu lao động giai đoạn 1995 - 2003).
- Xóa đói giảm nghèo: Triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn từng thời kỳ giảm liên tục; giải quyết cơ bản tình trạng nhà tạm, dột nát cho người nghèo.
- Văn hóa, giáo dục và y tế: Cơ sở vật chất trường học, trạm y tế được kiên cố hóa; huyện đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; mạng lưới y tế cơ sở chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng cấp; hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng và công tác quản lý lễ hội chùa Hương đi vào nền nếp.
- Chính sách xã hội: Thực hiện đầy đủ các chế độ đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng; đẩy mạnh phong trào "Đền ơn đáp nghĩa".
Chương 4: Một số nhận xét về chuyển biến kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức từ năm 1991 đến năm 2008
Tác giả đúc kết 5 nhận định tổng quát:
- Tiến trình chuyển biến kinh tế - xã hội trải qua hai giai đoạn phát triển rõ rệt: Giai đoạn 1991 - 1996 là bước tháo gỡ khó khăn, ổn định đời sống nhân dân và bước đầu phát triển kinh tế hàng hóa; giai đoạn 1996 - 2008 là bước đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.
- Sự chuyển dịch kinh tế ở Mỹ Đức phù hợp với yêu cầu phát triển và tiềm năng của địa phương: Khai thác được thế mạnh vùng bán sơn địa, phát huy lợi thế du lịch thắng cảnh Hương Sơn và kinh tế đa vùng (đồng bằng - trũng ngập - đồi gò).
- Kinh tế huyện có chuyển biến nhưng chưa bền vững: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 1995 - 2005 tuy có cải thiện nhưng quy mô GDP còn nhỏ bé, tỷ trọng công nghiệp chế biến thấp, chuyển dịch cơ cấu còn chậm so với mặt bằng chung toàn tỉnh Hà Tây và cả nước.
- Chuyển biến kinh tế đã tác động tích cực đến chuyển biến xã hội: Nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm, giảm nghèo, cải thiện điều kiện hưởng thụ giáo dục, văn hóa, y tế của người dân vùng nông thôn bán sơn địa.
- Kinh tế, xã hội địa phương vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: Kết cấu hạ tầng giao thông kết nối chưa hoàn chỉnh; địa bàn nằm trong vùng phân lũ gây rủi ro thiên tai lớn; chất lượng nguồn nhân lực thấp; tích lũy nội bộ nền kinh tế hạn chế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên tái hiện một cách toàn diện, chân thực và có hệ thống tiến trình chuyển biến kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức trong suốt 17 năm thuộc tỉnh Hà Tây (1991 - 2008).
- Góp phần bổ sung nguồn tài liệu thực tiễn và cơ sở lý luận cho chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, đặc biệt là mảng lịch sử kinh tế - xã hội địa phương thời kỳ đổi mới ở cấp huyện bán sơn địa.
- Làm rõ tính quy luật và mối quan hệ biện chứng giữa chuyển biến kinh tế và biến đổi xã hội ở một địa bàn ngoại vi có vị trí địa lý - sinh thái đặc thù.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá khách quan những thành tựu đạt được cũng như những yếu kém, khuyết điểm; lý giải nguyên nhân gắn với cơ chế quản lý và sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền cấp cơ sở.
- Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp các cơ quan Đảng, chính quyền huyện Mỹ Đức và thành phố Hà Nội hiện nay tham khảo trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời gian tới.
- Phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, biên soạn địa chí, lịch sử Đảng bộ địa phương và giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường phổ thông trên địa bàn.
Kiến nghị và bài học kinh nghiệm
- Cần tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển kinh tế dựa trên lợi thế so sánh của 3 vùng sinh thái (vùng bãi ven Đáy, vùng trũng và vùng đồi núi phía Tây).
- Tăng cường đầu tư đồng bộ cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống thủy lợi tiêu thoát lũ và giao thông kết nối với các trục kinh tế lớn.
- Phát triển du lịch - dịch vụ thắng cảnh Chùa Hương và Quan Sơn thành ngành kinh tế mũi nhọn, kết hợp bảo vệ cảnh quan môi trường và tài nguyên sinh vật; đẩy mạnh phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do nguồn tài liệu lưu trữ cấp xã và huyện qua nhiều thời kỳ chia tách, sáp nhập còn thất lạc hoặc phân tán, một số chuỗi số liệu thống kê liên tục về các chỉ tiêu chi tiết giữa các ngành trong một số năm chưa thực sự đầy đủ.
- Phạm vi nghiên cứu dừng lại ở mốc tháng 8 năm 2008 khi sáp nhập vào Hà Nội, do đó chưa phản ánh được sự biến đổi tiếp theo của địa phương khi hòa nhập vào không gian phát triển của Thủ đô.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu giai đoạn từ năm 2008 đến nay để làm rõ diện mạo kinh tế, xã hội của huyện Mỹ Đức khi là một huyện ngoại thành trực thuộc Thủ đô Hà Nội.
- Đi sâu nghiên cứu chuyên đề về chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội từ ngành du lịch sinh thái, tâm linh Chùa Hương dưới góc độ lịch sử văn hóa và kinh tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử: Cung cấp khung phương pháp tiếp cận nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội địa phương cấp huyện; phương pháp kết hợp tư liệu thành văn, số liệu thống kê và điền dã khảo sát thực địa.
- Giảng viên và giáo viên lịch sử: Là nguồn tài liệu phong phú để phục vụ giảng dạy phần lịch sử địa phương tỉnh Hà Tây và thành phố Hà Nội trong chương trình giáo dục phổ thông và đại học.
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên viên hoạch định chính sách cấp huyện: Cung cấp cứ liệu lịch sử xác thực về quá trình hình thành cơ cấu kinh tế 3 vùng, kinh nghiệm triển khai khoán nông nghiệp, dồn điền đổi thửa, phòng chống úng ngập và tổ chức lễ hội Chùa Hương tại huyện Mỹ Đức.
Câu hỏi thường gặp
1. Vị trí địa lý và điều kiện địa hình của huyện Mỹ Đức tác động như thế nào đến sản xuất nông nghiệp địa phương?
Mỹ Đức là huyện bán sơn địa, nằm kẹp giữa sông Đáy ở phía Đông và dãy núi đá vôi ở phía Tây. Huyện thuộc vùng phân lũ của Hà Tây, có tỷ lệ đất ngập nước và nửa ngập nước chiếm tới 23,32%, đất bị glây hóa và ngập úng thường xuyên chiếm 26,04% diện tích tự nhiên. Hàng năm huyện phải tiếp nhận lượng nước lũ từ vùng núi Hòa Bình đổ về qua suối Sỏi, suối Đường ra sông Thanh Hà và nước từ đồng cao huyện Chương Mỹ dồn xuống. Địa hình này gây khó khăn nghiêm trọng cho sản xuất lúa mùa do úng ngập, đòi hỏi đầu tư lớn vào hệ thống thủy lợi chống úng, nhưng đồng thời tạo thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi vịt và chuyển đổi mô hình kinh tế trang trại lúa - cá.
2. Tình trạng trang bị cơ giới hóa trong nông nghiệp huyện Mỹ Đức thời kỳ đầu sau thống nhất (năm 1976) ra sao?
Theo số liệu thống kê năm 1976 do Chi cục Thống kê Hà Sơn Bình công bố, mức độ cơ giới hóa nông nghiệp tại Mỹ Đức ở mức rất thấp so với toàn tỉnh. Toàn huyện không có máy phát điện (tỉnh có 39 chiếc), không có động cơ điện (tỉnh có 730 chiếc), không có máy nghiền thức ăn gia súc (tỉnh có 172 chiếc). Huyện chỉ có 37 động cơ Điezen (trong tổng số 2.082 chiếc của tỉnh) và 11 chiếc cày theo công nông (trong tổng số 224 chiếc của tỉnh).
3. Huyện Mỹ Đức đã triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khoán 10) năm 1988 như thế nào?
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988, Huyện ủy Mỹ Đức đã xây dựng kế hoạch triển khai với các nguyên tắc: giữ nguyên trạng ruộng đất ở các hợp tác xã, duy trì 2 quỹ đất (quỹ đất 1 chia theo nhân khẩu, quỹ đất 2 chia làm hai loại khoán thầu và đấu thầu) và giữ nguyên đất 5%. Huyện ủy chọn xã Lê Thanh làm đơn vị điểm để hoàn thiện cơ chế khoán đến hộ xã viên trước khi nhân rộng ra toàn huyện. Nhờ đó, có 96% số hộ nông dân toàn huyện được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài.
4. Cơ sở xác định hai mốc phân kỳ lịch sử (1991 - 1996 và 1996 - 2008) trong luận án là gì?
Mốc năm 1991 đánh dấu sự kiện tái lập tỉnh Hà Tây sau khi chia tách từ tỉnh Hà Sơn Bình (tháng 10/1991), đưa Mỹ Đức trở thành một huyện của tỉnh Hà Tây. Giai đoạn 1991 - 1996 là thời kỳ địa phương triển khai đường lối đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Mốc năm 1996 gắn liền với Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, khẳng định đất nước cơ bản ra khỏi khủng hoảng và bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã chuyển hướng lãnh đạo phát triển địa phương theo hướng này cho đến tháng 8 năm 2008, khi huyện hợp nhất vào thành phố Hà Nội.
5. Hệ thống chợ truyền thống tại huyện Mỹ Đức trước thời kỳ đổi mới hoạt động theo quy luật nào?
Huyện Mỹ Đức có mạng lưới gồm 7 chợ phân bố hợp lý theo không gian và thời gian. Chợ họp theo phiên, chu kỳ 5 ngày một phiên tính theo lịch âm (như chợ Phủ họp vào các ngày 4, 9, 14, 19, 24, 29; chợ Thá trên họp ngày 6, 16, 26). Lịch họp so le nhau bảo đảm ngày nào trong huyện cũng có chợ hoạt động. Chợ họp rất sớm và tan sớm (khoảng 8 - 9 giờ sáng), hàng hóa trao đổi chủ yếu là nông sản tự sản xuất, thực phẩm dân dã, công cụ nông nghiệp và các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp truyền thống.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Lệ Dung đã phục dựng một bức tranh lịch sử chân thực, hệ thống về quá trình chuyển biến kinh tế và xã hội của huyện Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Tây từ năm 1991 đến năm 2008. Công trình đã làm rõ những biến đổi căn bản trong cơ cấu kinh tế (ngành, thành phần, vùng) và sự tiến bộ trên các lĩnh vực xã hội (việc làm, giảm nghèo, văn hóa, giáo dục, y tế) gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và nỗ lực của nhân dân địa phương. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu quan trọng cho ngành Lịch sử Việt Nam mà còn là nguồn tư liệu thực tiễn phục vụ đắc lực cho công tác quy hoạch phát triển bền vững huyện Mỹ Đức trong giai đoạn hiện nay.