Chương 1. Cơ sở lý luận về khảo sát việc học kỹ năng mềm của sinh viên. Thực trạng khảo sát kỹ năng mềm của sinh viên ngành Quản trị Nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia. Giải pháp phát triển việc học kỹ năng mềm của sinh viên ngành Quản trị Nhân lực, Học viện Hành chính Quốc gia.
11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢO SÁT VIỆC HỌC KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan về khảo sát việc học kỹ năng mềm của sinh viên 1. Khảo sát “Ngày nay, phương pháp nghiên cứu hơn bao giờ hết, đã trở thành một trong những vấn đề trọng tâm không chỉ của các hoạt động mang tính học đường mà còn của tất cả mọi lĩnh vực khác”[26]. Khảo sát là phương pháp nghiên cứu nhằm thu thập dữ liệu, thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
Khảo sát là một công cụ thu thập dữ liệu bằng cách xây dựng hệ thống các câu hỏi có cấu trúc mà người trả lời đưa ra câu trả lời dựa trên kiến trúc và kinh nghiệm của họ. Đây là một quy trình thu thập dữ liệu tiêu chuẩn cho phép bạn truy cập thông tin từ một nhóm người trả lời được xác định trước trong quá trình nghiên cứu. là cách hiệu quả nhất để thu thập thông tin hoặc hiểu biết sâu sắc về bất kỳ thứ gì, từ nhóm có liên quan trong nhóm mục tiêu của bạn. Có thể là học thuật, doanh nghiệp, phương tiện truyền thông hoặc thậm chí là một cuộc họp nhóm tập trung đơn giản, các cuộc khảo sát có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về bất cứ điều gì.
Ở các trường đại học, cao đẳng, doanh nghiệp hay bất cứ môi trường nào đều cần đến khảo sát vì đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin một cách chung thực của nhiều người trong cùng một điều kiện hoàn cảnh giống nhau. Vậy khảo sát thực chất được hiểu như thế nào? “Khảo sát là một phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin dữ liệu và phản hồi thông qua việc đặt câu hỏi cho một nhóm người được xác định trước đó để đạt được mục đích nghiên cứu”. Hầu hết các cuộc điều tra khảo sát được thực hiện với mục đích nhằm thu thập dữ liệu với những nghiên cứu số lượng mẫu lớn. Khảo sát là phương pháp nghiên cứu có rất nhiều ưu điểm: Thu thập thông tin hiệu quả, khảo sát có thể thu thập thông tin từ một lượng lớn người tham gia 12 trong thời gian ngắn; Tính linh hoạt, khảo sát có thể được sử dụng để nghiên cứu nhiều chủ đề khác nhau; Dễ dàng thực hiện, khảo sát có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau, như trực tiếp, qua điện thoại, qua email, trực tuyến, v.v; Chi phí thấp, so với các phương pháp nghiên cứu khác, khảo sát thường có chi phí thấp hơn.
Bên cạnh đó, phương pháp khảo sát cũng có một số các nhược điểm hay hạn chế là: Tỷ lệ phản hồi thấp, khảo sát có thể gặp phải vấn đề về tỷ lệ phản hồi thấp, ảnh hưởng đến tính đại diện của dữ liệu; Tính chính xác của dữ liệu, dữ liệu thu thập được từ khảo sát có thể không chính xác do sự thiếu trung thực hoặc hiểu lầm của người tham gia; Tính khách quan, khảo sát có thể bị ảnh hưởng bởi sự thiên vị của người thiết kế khảo sát hoặc người tham gia; Khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng khảo sát, khó khăn có thể xảy ra khi tiếp cận một số nhóm đối tượng khảo sát nhất định. Như vậy, có thể nói khảo sát là phương pháp nghiên cứu được sửa dụng phổ biến, rộng rãi trong nghiên cứu nói chung và nghiên cứu khoa học nói riêng. Đây là phương pháp thu thập thông tin rất hiệu quả, cần có sự nghiên cứu sử dụng phù hợp và có sự kết hợp với các phương pháp khác để phát huy hiệu quả tốt nhất của việc khảo sát thông tin trong quá trình nghiên cứu. Kỹ năng mềm Kỹ năng mềm (hay còn gọi là Kỹ năng thực hành xã hội) là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảm dùng để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian.
Nhưng khái niệm như thế thì chưa rõ đối với nhiều người. Chính vì thế một nhà thạc sĩ kinh doanh (MBA) trên trang bemycareercoach.com đã xác lập một bảng phân tích và đưa ra nhưng khái niệm kỹ năng mềm riêng biệt: - Soft Skills – People skills (Kỹ năng mềm – Dịch tạm: kỹ năng tương tác với con người) là những kỹ năng mà chúng dùng để tương tác với người khác trong xã hội. Ví dụ như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý, kỹ năng làm việc nhóm. Song 13 chúng chưa đủ để biến chúng ta thành người có trí tuệ tuyệt vời, nó chỉ hỗ trợ chúng ta có thể tương tác (giao tiếp) tốt với người khác, hay ảnh hưởng lên người khác, và có thể giúp chúng ta có được sự giúp đỡ từ người khác.
- Soft Skill – Self management skills (Kỹ năng mềm – kỹ năng tự quản lý) là những kỹ năng giúp chúng ta có thể điều khiển cảm xúc và hành vi cá nhân. Ví dụ như: kiên nhẫn, tự tin, quản lý căng thẳng, quản lý sự tức giận… Khác với kỹ năng cứng được hiểu là trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay trình độ chuyên môn.Kỹ năng mềm tùy thuộc vào khả năng nắm bắt của mỗi người. Kỹ năng cứng được đánh giá qua trình độ học vấn hay sự thành thạo về chuyên môn. Theo đánh giá kỹ năng cứng chỉ mang lại 25% sự thành công, trong khi đó kỹ năng mềm chiếm 75% yếu tố quyết định.
Tuy nhiên, kỹ năng cứng và kỹ năng mềm có mối quan hệ với nhau.Khi nắm vững được kiến thức thì mới có thể sử dụng kỹ năng mềm áp dụng vào thực tế.Nếu có kỹ năng mềm nhưng không nắm vững được kiến thức thì cũng không tạo nên hiệu quả.Ngược lại, có đầy đủ kiến thức nhưng lại không có kỹ năng mềm khi vận dụng vào thực tế thì công việc sẽ khó khăn, phức tạp hơn. Kỹ năng mềm có thể được rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi không bị rằng buộc bởi nguyên tắc hay chuẩn mực nào. Mỗi người tự lựa chọn khái niệm, cách thức rèn luyện kỹ năng mềm cho riêng mình. Có thể thấy tầm quan trọng của kỹ năng mềm đối với cuộc sống hằng ngày cũng như trong công việc của mỗi con người.
Vì vậy, cần hiểu rõ về kỹ năng mềm để mỗi người có thể khái quát kỹ năng mềm một cách rõ ràng nhất. Theo nhà nghiên cứu N. Pattrick (2008) định nghĩa: “Kỹ năng mềm là khả năng, cách thức chúng ta thích ứng với môi trường. Kỹ năng mềm là khả năng, là cách thức chúng ta tiếp cận và phản ứng với môi trường xung quanh, không phụ thuộc và trình độ chuyên môn và kiến thức” [5].
Kỹ năng mềm không phải là yếu tố bẩm sinh về tính cách hay là những kiến thức của sự hiểu biết lí thuyết mà đó là khả năng thích nghi với môi trường và con người để tạo ra sự tương tác hiệu quả trên bình diện cá nhân và cả công việc”. 14 Có thể tổng hợp, và khái quát kỹ năng mềm có một số đặc điểm như sau: - Kỹ năng mềm không phải là yếu tố bẩm sinh của của con người - Kỹ năng mềm không chỉ là biểu hiện của Trí tuệ cảm xúc - Kỹ năng mềm được hình thành thông qua sự trải nghiệp thực tế chứ không phải là sự “nạp” đơn thuần. - Kỹ năng mềm góp phần hỗ trợ cho kiến thức kể cả đại cương và chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng cứng Tổng hợp từ những tài liệu thu thập được, từ những phân tích của chuyên gia, nhóm tác giả đưa ra một cách khái quát nhất về kỹ năng mềm như sau: “Kỹ năng mềm là khả năng và phẩm chất cá nhân không liên quan trực tiếp đến kiến thức chuyên môn nhưng giúp con người thích ứng với những vấn đề trong thực tế để đưa đến sự thành công”. Kỹ năng mềm là những kỹ năng quan trọng liên quan tới mặt trí tuệ, cảm xúc.
Kỹ năng mềm chứng tỏ khả năng hòa nhập, tương tác với xã hội, cộng đồng, tập thể,… Có thể thấy, kỹ năng mềm không mang tính chuyên môn mà liên quan tới tính cách, cảm xúc. Và giao tiếp chính là một trong những kỹ năng mềm vô cùng cần thiết trong cuộc sống [12]. Khảo sát việc học kỹ năng mềm của sinh viên “Khảo sát việc học kỹ năng mềm là phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu, phản hồi về kỹ năng mềm của sinh viên thông qua các loạt câu hỏi cho đối tượng học sinh, sinh viên với mục đích đưa ra một số giả định để từ đó đưa ra các hướng nghiên cứu mới”. Khảo sát việc học việc học kỹ năng mềm của sinh viên là phương pháp được sử dụng nhiều trong giáo dục nhằm tìm kiếm các giải pháp nhằm phát triển việc học cho sinh viên.
Để đảm bảo tính hiệu quả trong việc nghiên cứu, khảo sát việc học kỹ năng mềm của sinh viên cần được thực hiện thông qua các bước cụ thể như sau: Bước 1. Xác định mục tiêu khảo sát: Xác định rõ mục đích của khảo sát là gì, ví dụ như: Đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên với chất lượng giảng dạy. Xác định những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình học tập. Thu 15 thập ý kiến sinh viên về các đề xuất cải thiện chất lượng đào tạo.
Việc xác định mục tiêu càng cụ thể, rõ ràng thì phương pháp khảo sát diễn ra càng thuận lợi. Lựa chọn phương pháp khảo sát: Có nhiều phương pháp khảo sát khác nhau như: Khảo sát trực tiếp: Phù hợp để thu thập thông tin chi tiết và sâu sắc; Khảo sát trực tuyến: Tiện lợi và nhanh chóng, nhưng tỷ lệ phản hồi có thể thấp; Khảo sát qua điện thoại: Tiết kiệm chi phí, nhưng khó tiếp cận được những sinh viên không có điện thoại. Cần dựa trên các yếu tố cả chủ quan và khách quan của người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu để lựa chọn hình thức khảo sát phù hợp nhất cho từng nội dung nghiên cứu. Thiết kế bảng khảo sát: Bảng khảo sát cần bao gồm các câu hỏi được thiết kế cẩn thận để thu thập thông tin cần thiết.
Các câu hỏi cần rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và không thiên vị. Bảng khảo sát cần có bố cục hợp lý và dễ sử dụng. Bảng khảo sát cần phù hợp với đối tượng khảo sát để thu được dữ kiệu đầy đủ về số lượng và có chất lượng tốt.