Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn của tác giả Huỳnh Tuấn Phát (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Phước Bảo Khôi, hoàn thành tháng 04/2024) tập trung giải quyết bài toán lựa chọn ngữ liệu văn bản văn học (VBVH) cho phần Đọc hiểu trong đề thi tuyển sinh vào lớp 10 công lập. Bối cảnh thực tiễn và lý do xác lập đề tài được tác giả luận giải qua 5 điểm căn bản:

  1. Đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) là bộ phận không thể tách rời và đóng vai trò động lực thúc đẩy đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông. Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018 (CT Ngữ văn 2018) đặt ra yêu cầu chuyển dịch mang tính bản chất từ đánh giá định hướng nội dung sang đánh giá định hướng năng lực người học.
  2. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông (THPT) công lập hằng năm giữ vị trí then chốt nhằm đo lường chất lượng giáo dục cấp trung học cơ sở (THCS) tại các địa phương, đồng thời là căn cứ trực tiếp phục vụ công tác phân luồng học sinh sau THCS giữa hai hướng tiếp tục học THPT hoặc học nghề.
  3. CT Ngữ văn 2018 hướng tới hình thành 5 phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm), phát triển các năng lực chung và 2 năng lực đặc thù: năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. VBVH là loại văn bản trọng tâm trong quá trình dạy học và đánh giá. Bên cạnh đó, Công văn số 3175/BGDĐT-GDTrH do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 21/07/2022 đã pháp lý hóa yêu cầu bắt buộc sử dụng ngữ liệu mới ngoài sách giáo khoa (SGK) trong đề kiểm tra, đề thi nhằm đánh giá đúng năng lực, tránh học tủ, học vẹt. Quy định này dẫn đến những băn khoăn, áp lực thực tế cho giáo viên khi xây dựng đề thi tuyển sinh vào lớp 10 sau năm học 2023 - 2024.
  4. Cấu trúc đề thi tuyển sinh 10 môn Ngữ văn tại các địa phương phổ biến gồm hai phần: phần Đọc hiểu (chiếm từ 2,0 đến 3,0/10 điểm) và phần Làm văn. Đọc hiểu đóng vai trò nền tảng kiểm tra năng lực tiếp nhận, tác động trực tiếp đến khả năng tạo lập văn bản và điểm xét tuyển của học sinh, do đó khâu chọn ngữ liệu VBVH cho phần thi này đòi hỏi các tiêu chuẩn khoa học cụ thể.
  5. Tổng quan tài liệu cho thấy tồn tại khoảng trống nghiên cứu: các tài liệu hiện hành phần lớn chỉ nêu nguyên tắc, yêu cầu chung mà chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí, định mức dung lượng và thể loại cụ thể, có tính cấp thiết và khả thi cho ngữ liệu VBVH phần Đọc hiểu đề thi tuyển sinh 10.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn hệ thống SGK Ngữ văn 9 mới, đề tài đề xuất hệ thống yêu cầu và tiêu chí lựa chọn VBVH trong phần Đọc hiểu của đề thi tuyển sinh vào lớp 10 công lập đáp ứng CT Ngữ văn 2018, đồng thời tiến hành khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các đề xuất.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Một là: Thu thập, phân tích tài liệu lý thuyết trong và ngoài nước về VBVH, các nguyên tắc chọn ngữ liệu giảng dạy và KTĐG theo định hướng năng lực.
  • Hai là: Khảo sát thực trạng sử dụng VBVH trong 3 bộ SGK Ngữ văn 9 (bản đọc góp ý) theo CT Ngữ văn 2018 (Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức với cuộc sống, Cánh diều) về số lượng theo thể loại, đề tài và dung lượng.
  • Ba là: Xây dựng hệ thống nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn VBVH phần Đọc hiểu đề thi tuyển sinh 10 công lập và tiến hành khảo nghiệm chuyên gia về tính cấp thiết, tính khả thi của các đề xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc lựa chọn ngữ liệu VBVH sử dụng trong phần Đọc hiểu của đề thi tuyển sinh vào lớp 10 công lập theo yêu cầu CT Ngữ văn 2018.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các VBVH trong 3 bộ SGK Ngữ văn 9 (bản đọc góp ý) phục vụ CT Ngữ văn 2018 theo các chỉ số: số lượng phân theo thể loại, đề tài, dung lượng văn bản (nhóm bài học chính thức, đọc mở rộng thể loại, đọc kết nối chủ điểm). Địa bàn khảo nghiệm ý kiến chuyên môn gồm giáo viên THCS tại 3 tỉnh: Bình Dương, Đắk Lắk và Phú Yên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa lý luận văn học hiện đại, khoa học đánh giá giáo dục quốc tế và các văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.

1. Khung lý thuyết và quan niệm về văn bản văn học:

  • Quan niệm quốc tế: Nghiên cứu tiếp cận định nghĩa của Cơ quan Đánh giá và Báo cáo Chương trình giảng dạy Úc (ACARA, 2013), coi VBVH là loại văn bản có giá trị lâu bền về hình thức, phong cách nghệ thuật, có bản chất động (dynamic) và phát triển (evolving), làm phong phú kinh nghiệm cá nhân, văn hóa và thẩm mỹ của học sinh.
  • Quan niệm trong nước: Dựa trên Từ điển Văn học (Bộ mới) (Đỗ Đức Hiểu et al.), VBVH là một chỉnh thể nghệ thuật có tổ chức, một thông báo thẩm mỹ mà tác giả gửi đến người đọc; nghĩa của văn bản được thiết lập qua quan hệ với thực tại bên ngoài, liên văn bản và tâm thế tiếp nhận của độc giả.
  • Phân biệt VBVH và tác phẩm văn học: Nghiên cứu tiếp thu quan điểm của Roman Ingarden (VBVH là "lược đề"/sơ cấu mang tính khách thể thuần túy, cần sự "cụ thể hóa" của người đọc để trở thành tác phẩm), Jan Mukařovský (VBVH là ký hiệu bên ngoài, tác phẩm là khách thể thẩm mỹ bên trong), Roland Barthes (VBVH là không gian sản sinh nghĩa) và N. Tamarchenko (VBVH là khách thể nhìn từ bên ngoài). Tác giả khóa luận xác định: VBVH là văn bản sử dụng các yếu tố hư cấu, tưởng tượng để bộc lộ, giãi bày tình cảm, phục vụ nhu cầu thẩm mỹ của con người.
  • Đặc điểm VBVH: Khảo sát trên góc độ phong cách học (các cấp độ ngữ âm, từ ngữ lạ hóa, cấu trúc câu in đậm dấu ấn chủ thể phát ngôn theo Trần Đình Sử) và góc độ loại hình học (tính hư cấu, tính sinh thành, tính nội chỉ, tính nổi bật khác thường, tính liên văn bản).
  • Phân loại thể loại: Kế thừa truyền thống phân chia ba thể loại của phương Tây (Aristote, V. Belinsky: tự sự, trữ tình, kịch), hệ thống chia bốn của phương Đông (thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết, kịch) và cách phân loại của CT Ngữ văn 2018 (phân theo mục đích giao tiếp, tách văn bản nghị luận thành loại độc lập; chia VBVH thành 4 thể loại chính: truyện, thơ, kịch, kí).

2. Tiêu chuẩn quốc tế và trong nước về lựa chọn ngữ liệu kiểm tra đánh giá:

  • Nghiên cứu quốc tế: Tiếp thu khung tiêu chuẩn lựa chọn ngữ liệu của Hội đồng Giáo viên Ngữ văn Quốc gia Hoa Kỳ (NCTE) và Sở Giáo dục Bang New York (NYSED); tham khảo tiêu chuẩn độ phức tạp văn bản của CCSS; vận dụng Khung ước tính độ khó văn bản (Framework for estimating text difficulty) từ Chương trình Giáo dục New Zealand (đo lường độ tuổi phù hợp, sự phức tạp của ý tưởng, cấu trúc/tính mạch lạc, cấu trúc cú pháp, độ khó từ vựng và độ dài); tích hợp tiêu chuẩn ngữ liệu đánh giá đọc hiểu của Khung đánh giá PIRLS 2021 và NAEP 2009 (tính xác thực, đại diện cho trải nghiệm đọc thực tế, chất lượng nghệ thuật cao).
  • Nghiên cứu trong nước: Kế thừa định hướng phát triển chương trình môn học theo trục 4 kỹ năng giao tiếp (Đỗ Ngọc Thống), hệ thống nguyên tắc lựa chọn tác phẩm văn học trong nhà trường (Nguyễn Thị Thanh Hương, Hà Nguyễn Kim Giang) và các đề xuất ban đầu về văn bản đọc hiểu trong đề thi THPT (Đỗ Gia Linh, Nguyễn Phước Bảo Khôi).
  • Văn bản quy phạm: Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ban hành CT Ngữ văn 2018 và Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.
Yếu tố đo lường (Theo Khung New Zealand) Tiêu chí cụ thể xem xét khi chọn văn bản
Độ tuổi phù hợp Tuổi nhân vật chính; sự trưởng thành cần có để xử lý chủ đề; sở thích và kinh nghiệm sống của học sinh.
Sự phức tạp của ý tưởng Ý tưởng ngụ ý (yêu cầu suy luận); mức độ tường minh hay trừu tượng; mật độ ẩn dụ, ngôn ngữ hình tượng; yếu tố hồi tưởng, xáo trộn thời gian; điểm nhìn trần thuật.
Cấu trúc và tính mạch lạc Kết nối văn bản; bố cục đoạn; mức độ phân bổ lời thoại; sử dụng hệ thống tiêu đề, tiêu đề phụ.
Cấu trúc cú pháp Độ dài câu; tỷ lệ cân bằng câu đơn, câu ghép, câu phức; câu chưa hoàn chỉnh; hiện tượng danh nghĩa hóa; sự biến đổi thì của động từ.
Độ khó của từ vựng Từ ngữ ít quen thuộc; thuật ngữ chuyên môn; danh từ riêng; mức độ hỗ trợ từ ngữ cảnh, hình ảnh hoặc bảng chú giải.
Độ dài văn bản Tương quan giữa độ dài câu chữ và mức độ hỗ trợ của các chi tiết tường giải.

3. Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Hồi cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành trong và ngoài nước nhằm thiết lập cơ sở lý luận về thể loại, kiểm tra đánh giá định hướng năng lực và tiêu chí chọn ngữ liệu.
  • Phương pháp điều tra giáo dục: Thiết kế phiếu thu thập ý kiến chuyên gia, tổ chức khảo nghiệm đối với giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn cấp THCS tại 3 địa phương (Bình Dương, Đắk Lắk, Phú Yên) để đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các đề xuất.
  • Phương pháp xử lý thông tin: Ứng dụng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 26 (phát hành năm 2019) để mã hóa, tính toán các chỉ số thống kê mô tả, phân tích số liệu thực trạng SGK và kết quả khảo nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng định hình khuôn khổ đề tài:

  • Khái niệm, bản chất thẩm mỹ và đặc trưng loại hình của VBVH; đối sánh bản chất giữa VBVH và tác phẩm văn học thông qua các quan điểm tiếp nhận và cấu trúc luận.
  • Lịch sử phân loại thể loại văn học phương Tây và phương Đông; phân tích tính kế thừa và điều chỉnh của CT Ngữ văn 2018 khi phân chia VBVH thành 4 nhánh: truyện, thơ, kịch, kí dựa trên mục đích giao tiếp thẩm mỹ.
  • Tổng quan hệ thống nghiên cứu quốc tế (NCTE, NYSED, New Zealand, PIRLS, NAEP) và nghiên cứu trong nước (Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Thị Thanh Hương, Hà Nguyễn Kim Giang, Đỗ Gia Linh, Nguyễn Phước Bảo Khôi) về tiêu chí lựa chọn văn bản. Tác giả chỉ ra khoảng trống: việc áp dụng lý thuyết lựa chọn ngữ liệu vào đề thi chuyển cấp THCS lên THPT công lập vẫn thiếu các định mức định lượng rõ ràng.
  • Bản chất bước chuyển từ đánh giá định hướng nội dung (CT 2006: chú trọng kiểm tra chuẩn kiến thức, ghi nhớ sự kiện, phân loại học lực bằng bài kiểm tra viết định kỳ) sang đánh giá định hướng năng lực (CT 2018: đánh giá sự tiến bộ, mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về năng lực đọc hiểu hình thức, đọc hiểu nội dung, liên hệ so sánh kết nối; kết hợp đánh giá thường xuyên và định kỳ; bắt buộc sử dụng ngữ liệu mới ngoài SGK).

Chương 2: Văn bản văn học trong các bộ sách giáo khoa Ngữ văn 9 (bản đọc góp ý) phục vụ cho Chương trình Ngữ văn 2018

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát định lượng chi tiết trên 3 bộ SGK Ngữ văn 9 (bản đọc góp ý):

1. Bộ sách Chân trời sáng tạo:

  • Phân bổ thể loại: Tổng số có 26 VBVH. Thể loại thơ chiếm tỷ lệ cao nhất với 12 văn bản (46,2%), tiếp đến là truyện, kịch có 3 văn bản (11,5%), kí xuất hiện ít nhất với 2 văn bản (7,7%). Đáng chú ý, 2 văn bản kí không phải là thể loại học chính thức của lớp 9 mà chỉ đóng vai trò đọc kết nối chủ điểm (Bài 1 và Bài 8). Do đó, kịch là thể loại dạy học chính thức có tỷ lệ thấp nhất.
  • Đề tài: Tác giả gom nhóm các đề tài cụ thể thành các mảng lớn và đếm tần suất cơ học. Ba đề tài xuất hiện nhiều nhất là "Số phận con người", "Thiên nhiên" và "Gia đình"; đề tài xuất hiện ít nhất là "Người anh hùng".
  • Dung lượng:
    • Thể loại truyện: VB học chính thức dài nhất khoảng 2.700 chữ (Truyện lạ nhà thuyền chài - Lê Thánh Tông), ngắn nhất là 364 chữ (Tiếng đàn giải oan - truyện thơ Nôm khuyết danh). Dung lượng trung bình nhóm học chính thức là 1.450 chữ. Nhóm đọc mở rộng thể loại có dung lượng trung bình dài gấp 1,17 lần nhóm học chính thức.
    • Thể loại thơ: VB dài nhất có 380 chữ (Nhớ rừng - Thế Lữ), ngắn nhất có 112 chữ (Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử). Dung lượng trung bình nhóm dạy học chính thức là 239 chữ. Nhóm đọc mở rộng thể loại có dung lượng trung bình tương đương (gấp 1,0 lần) nhóm chính thức.
    • Thể loại kịch: VB chính thức dài nhất khoảng 2.700 chữ, ngắn nhất khoảng 900 chữ (Uy-li-am Sếch-xpia), trung bình đạt 1.800 chữ. VB đọc mở rộng thể loại (Cái bóng trên tường - Nguyễn Đình Thi) đạt khoảng 1.800 chữ.

2. Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống:

  • Phân bổ thể loại: Tổng số có 25 VBVH. Thơ chiếm ưu thế với 12 văn bản (48,0%), truyện đứng thứ hai (chênh lệch 2 văn bản so với thơ, chiếm 40,0%), kịch có 3 văn bản (12,0%).
  • Đề tài: Tần suất xuất hiện cao nhất tập trung vào hai mảng: "Số phận con người" và "Tình yêu, tình bạn"; hai đề tài có tần suất thấp nhất là "Người anh hùng" và "Quan niệm/lí tưởng sống".
  • Dung lượng truyện: Thống kê các văn bản tiêu biểu như Chuyện người con gái Nam Xương (~1.900 chữ), Dế chọi (~2.000 chữ), các đoạn trích truyện thơ Nôm (Kim - Kiều gặp gỡ).

3. Bộ sách Cánh diều và đối sánh chung:

  • Tác giả thực hiện khảo sát tương tự về số lượng, đề tài và dung lượng văn bản của bộ Cánh diều (Bảng 2.16 đến Bảng 2.21).
  • Rút ra nhận xét tổng hợp (Bảng 3.1, Bảng 3.2): Thơ và truyện là hai thể loại chiếm tỷ trọng áp đảo trong cả 3 bộ sách, đại diện cho trục phát triển năng lực tiếp nhận chính ở lớp 9; kịch và kí chiếm dung lượng và tần số xuất hiện khiêm tốn.
Bộ SGK Ngữ văn 9 (Bản đọc góp ý) Tổng số VBVH Tỷ lệ thể loại Thơ Tỷ lệ thể loại Truyện Tỷ lệ thể loại Kịch Đề tài xuất hiện nhiều nhất Dung lượng trung bình Thơ chính thức Dung lượng trung bình Truyện chính thức
Chân trời sáng tạo 26 VB 46,2% (12 VB) 34,6% (9 VB) 11,5% (3 VB) Số phận con người, Thiên nhiên, Gia đình 239 chữ 1.450 chữ
Kết nối tri thức với cuộc sống 25 VB 48,0% (12 VB) 40,0% (10 VB) 12,0% (3 VB) Số phận con người, Tình yêu - tình bạn Tương đương hệ thống chuẩn Dao động ~1.500 - 2.000 chữ

Chương 3: Những đề xuất về việc lựa chọn văn bản văn học trong phần đọc hiểu của đề thi tuyển sinh 10 đáp ứng yêu cầu Chương trình Ngữ văn 2018

Dựa trên dữ liệu thực trạng ở Chương 2, Chương 3 đưa ra các giải pháp sư phạm ứng dụng:

  • Xác lập 3 nguyên tắc đề xuất:
    1. Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ: Tiêu chí ngữ liệu phải khớp nối với chuẩn đầu ra của CT Ngữ văn 2018, bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu dạy học và mục tiêu phân loại tuyển sinh.
    2. Đảm bảo tính kế thừa và phát triển: Kế thừa kinh nghiệm ra đề thi tuyển sinh truyền thống nhưng mở rộng phạm vi ngữ liệu ra ngoài SGK theo hướng đánh giá năng lực thực chất.
    3. Đảm bảo tính thực tiễn và khả thi: Ngữ liệu phải phù hợp thời lượng làm bài thi (thường từ 90 đến 120 phút cho toàn bài thi), vừa sức với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tốt nghiệp THCS.
  • Nội dung đề xuất cụ thể:
    • Nguồn ngữ liệu: Yêu cầu xuất xứ rõ ràng, trích dẫn từ các tác giả uy tín hoặc tác phẩm được thẩm định, có tính chuẩn mực văn hóa, thẩm mỹ và ngôn ngữ.
    • Thể loại ưu tiên: Xác lập thứ tự ưu tiên lựa chọn dựa trên tỷ lệ phân bố thể loại của 3 bộ SGK (Bảng 3.1). Thơ và Truyện (bao gồm truyện ngắn hiện đại, truyện truyền kỳ, truyện thơ Nôm) là hai thể loại ưu tiên hàng đầu; kịch chỉ sử dụng khi trích đoạn đảm bảo tính trọn vẹn và không đòi hỏi quá nhiều tri thức bối cảnh sân khấu phức tạp.
    • Định mức dung lượng: Xây dựng bảng quy chiếu định mức dung lượng đề xuất cho đề thi tuyển sinh 10 dựa trên dung lượng thực tế của các văn bản dạy học chính thức trong 3 bộ SGK (Bảng 3.3 cho thể loại Thơ; Bảng 3.4 cho thể loại Truyện thơ Nôm). Định mức dung lượng cho phần Đọc hiểu được rút gọn hợp lý so với văn bản học trên lớp để bảo đảm học sinh xử lý kịp trong khung thời gian 20 - 30 phút dành cho phần Đọc hiểu.
    • Hệ thống tiêu chí cụ thể cho thể loại ưu tiên (Bảng 3.5): Tương thích với yêu cầu cần đạt lớp 9 về nhận biết đề tài, cảm hứng chủ đạo, nhân vật, cốt truyện, mạch cảm xúc, hình ảnh, từ ngữ, các biện pháp tu từ.
    • Tích hợp kiến thức Tiếng Việt (Bảng 3.6): Bổ sung tiêu chuẩn về tiềm năng khai thác ngữ pháp, biện pháp tu từ, từ ngữ của ngữ liệu phục vụ các câu hỏi kiểm tra năng lực tiếng Việt lồng ghép trong phần Đọc hiểu.
  • Khảo nghiệm sư phạm: Khóa luận xây dựng phiếu hỏi (Phụ lục 1) và tiến hành khảo sát ý kiến giáo viên THCS tại Bình Dương, Đắk Lắk, Phú Yên. Dữ liệu xử lý bằng SPSS 26 khẳng định tính cấp thiết (Bảng 3.7) và tính khả thi (Bảng 3.8) của toàn bộ hệ thống nguyên tắc, thể loại ưu tiên, định mức dung lượng và tiêu chí lựa chọn đề xuất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể và đóng góp học thuật rõ ràng:

  1. Kết quả khảo sát thực trạng SGK: Khóa luận cung cấp bức tranh số liệu toàn diện về VBVH lớp 9 mới qua việc thống kê tỉ mỉ 3 bộ SGK bản đọc góp ý. Kết quả chỉ ra thể loại Thơ chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng tác phẩm (46,2% ở bộ Chân trời sáng tạo, 48,0% ở bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), tiếp theo là Truyện, trong khi Kịch chiếm tỷ lệ thấp (khoảng 11,5% - 12,0%) và Kí chỉ giữ vai trò đọc kết nối mở rộng. Về đề tài, "Số phận con người", "Thiên nhiên", "Gia đình" và "Tình cảm bạn bè/tình yêu" chiếm tần suất xuất hiện dày đặc nhất, trong khi đề tài "Người anh hùng" chiếm tỷ lệ thấp nhất.
  2. Xác lập định mức dung lượng tham chiếu khoa học: Thay vì chọn ngữ liệu cảm tính, đề tài cung cấp bảng quy chuẩn dung lượng trung bình của các thể loại dựa trên đo lường thực tế từ SGK (nhóm văn bản thơ chính thức đạt mức bình quân 239 chữ; truyện chính thức dao động từ 1.450 đến 2.000 chữ; trích đoạn kịch khoảng 1.800 chữ). Từ đó, tác giả đưa ra định mức dung lượng khuyến nghị phù hợp cho bài thi tuyển sinh 10.
  3. Bộ tiêu chí lựa chọn ngữ liệu hoàn chỉnh: Xây dựng hệ thống tiêu chí định tính và định lượng gắn liền với yêu cầu cần đạt của CT Ngữ văn 2018, kết hợp tiềm năng khai thác kiến thức Tiếng Việt trong ngữ liệu đọc hiểu.
  4. Khảo nghiệm thực tiễn: Toàn bộ hệ thống đề xuất đã được kiểm chứng qua khảo nghiệm thực tế trên đội ngũ giáo viên THCS tại 3 tỉnh thành đại diện (Bình Dương, Đắk Lắk, Phú Yên) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 26, xác nhận độ tin cậy, tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp.
  5. Đóng góp học thuật: Khóa luận lấp đầy khoảng trống nghiên cứu chuyên biệt về khâu lựa chọn ngữ liệu VBVH cho đề thi tuyển sinh 10 sau khi triển khai Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT và Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH, chuyển hóa các nguyên lý đánh giá năng lực quốc tế thành tiêu chí thao tác hóa được tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nguồn dữ liệu SGK Ngữ văn 9 được khảo sát dựa trên bản đọc góp ý ở thời điểm tháng 04/2024, do đó có thể xuất hiện một số điều chỉnh nhỏ về số trang hoặc chi tiết ngữ liệu khi các bộ SGK được phát hành chính thức đưa vào giảng dạy đại trà.
    • Phạm vi khảo nghiệm giáo viên mới thực hiện tại 3 tỉnh (Bình Dương, Đắk Lắk, Phú Yên), chưa mở rộng khảo sát trên diện rộng toàn bộ các tỉnh thành thuộc các vùng miền khác nhau trên cả nước.
    • Nghiên cứu tập trung chuyên biệt vào ngữ liệu VBVH, chưa bao quát hai loại văn bản còn lại của CT Ngữ văn 2018 là văn bản nghị luận và văn bản thông tin.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đối sánh lại hệ thống số liệu khi các bộ SGK Ngữ văn 9 bản chính thức được áp dụng đại trà trong năm học 2024 - 2025.
    • Mở rộng hướng đề xuất tiêu chí chọn ngữ liệu cho văn bản nghị luận và văn bản thông tin trong cấu trúc đề thi tuyển sinh vào lớp 10.
    • Tiếp tục theo dõi, khảo sát, phân tích ma trận và ngữ liệu của các đề thi tuyển sinh 10 thực tế do Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố trong các kỳ thi sắp tới để đánh giá mức độ tương thích.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với nhiều nhóm đối tượng trong ngành giáo dục:

  • Cán bộ quản lý chuyên môn và tổ khảo thí các Sở GD&ĐT: Cung cấp căn cứ khoa học, bảng quy chiếu dung lượng và nguyên tắc lựa chọn ngữ liệu để xây dựng ma trận đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ văn đạt chuẩn đánh giá năng lực, tránh tình trạng chọn văn bản quá dài, quá khó hoặc lệch chuẩn thể loại.
  • Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn cấp THCS: Tài liệu hỗ trợ đắc lực cho giáo viên lớp 9 trong việc tìm kiếm, thẩm định và tuyển chọn các văn bản đọc hiểu ngoài SGK phục vụ biên soạn đề kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và ôn tập cho học sinh cuối cấp.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo bài bản về phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp khảo sát định lượng SGK và quy trình khảo nghiệm giáo dục ứng dụng phần mềm SPSS.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê chi tiết dung lượng và đề tài ở Chương 2; hệ thống tiêu chí lựa chọn cho thể loại ưu tiên và bảng định mức dung lượng văn bản tại Chương 3 (Bảng 3.3, 3.4, 3.5, 3.6).

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao đề tài lại chọn nghiên cứu ngữ liệu đề thi tuyển sinh vào lớp 10 mà không phải đề kiểm tra định kỳ thông thường?
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập là kỳ thi chuyển cấp mang tính cạnh tranh cao, điểm số phần Đọc hiểu (chiếm 2,0 - 3,0/10 điểm) quyết định trực tiếp cơ hội trúng tuyển của học sinh và phân luồng sau THCS. Đồng thời, việc bắt buộc dùng ngữ liệu mới ngoài SGK theo Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH đặt ra thách thức lớn nhất tại kỳ thi này do tính chất nhạy cảm trước dư luận xã hội.

2. CT Ngữ văn 2018 phân loại VBVH thành 4 thể loại (truyện, thơ, kịch, kí), vì sao khóa luận lại xác định "thể loại ưu tiên" khi chọn ngữ liệu phần Đọc hiểu?
Dựa trên kết quả khảo sát định lượng 3 bộ SGK Ngữ văn 9, thơ và truyện chiếm tỷ lệ áp đảo (thơ chiếm 46,2% - 48,0%, truyện chiếm từ 34,6% - 40,0%), trong khi kịch chỉ chiếm khoảng 11,5% - 12,0% và kí chỉ xuất hiện ở phần đọc kết nối. Bên cạnh đó, thời lượng phần Đọc hiểu trong đề thi tuyển sinh chỉ khoảng 20 - 30 phút, văn bản thơ và truyện ngắn/đoạn trích truyện phù hợp hơn về tính trọn vẹn ngữ nghĩa, không đòi hỏi bối cảnh sân khấu phức tạp như kịch bản văn học.

3. Khóa luận giải quyết vấn đề độ dài của ngữ liệu đọc hiểu như thế nào để tránh quá tải cho học sinh?
Tác giả đã thống kê dung lượng thực tế của các tác phẩm trong 3 bộ SGK (ví dụ thơ trung bình 239 chữ; truyện dao động từ vài trăm đến 2.700 chữ), từ đó xây dựng Bảng quy chiếu định mức dung lượng (Bảng 3.3 cho thơ, Bảng 3.4 cho truyện thơ Nôm) nhằm đưa ra khung số lượng chữ tối ưu cho văn bản trích dẫn trong đề thi, bảo đảm học sinh vừa kịp đọc sâu vừa đủ thời gian trả lời hệ thống câu hỏi.

4. Dữ liệu khảo nghiệm trong khóa luận được thu thập ở đâu và xử lý bằng công cụ gì?
Dữ liệu khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các đề xuất được thu thập thông qua phiếu hỏi giáo viên dạy môn Ngữ văn cấp THCS tại 3 địa phương: Bình Dương, Đắk Lắk và Phú Yên. Toàn bộ số liệu thu thập được số hóa và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 26 (năm 2019).

5. Khóa luận phân biệt thế nào giữa khái niệm "văn bản văn học" và "tác phẩm văn học"?
Tiếp thu quan điểm lý luận văn học của Roman Ingarden, Jan Mukařovský và Roland Barthes, khóa luận xác định: VBVH là một hệ thống ngôn ngữ do nhà văn sáng tạo ra dưới dạng văn bản tĩnh, tồn tại như một khách thể, một "lược đề" chứa đựng các tiềm năng ý nghĩa; chỉ khi người đọc tiếp nhận, giải mã, "cụ thể hóa" qua quá trình đọc thì VBVH mới thực sự trở thành tác phẩm văn học mang chức năng xã hội và giá trị thẩm mỹ trọn vẹn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Tuấn Phát là công trình nghiên cứu chuyên khảo có cấu trúc chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận dạy học Ngữ văn hiện đại và khảo sát định lượng thực chứng trên 3 bộ SGK Ngữ văn 9 mới. Đề tài đã giải quyết trúng vấn đề thời sự của ngành giáo dục khi cung cấp hệ thống nguyên tắc, định mức dung lượng và tiêu chí khoa học cho việc lựa chọn ngữ liệu VBVH ngoài SGK trong phần Đọc hiểu đề thi tuyển sinh 10. Các giải pháp đề xuất không chỉ có giá trị lý luận về kiểm tra đánh giá theo năng lực mà còn có tính ứng dụng thực tiễn cao, hỗ trợ trực tiếp cho các nhà quản lý giáo dục và giáo viên THCS trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 theo CT Ngữ văn 2018.