mở đầu, có kết thúc, mang tính liên kết chặt chẽ, một hệ thông thông nhất về mặt hình thức * Trần Dinh Sử (Chủ biên), Phan Huy Dũng, La Khắc Hỏa, Phủng Ngọc Kiếm, Lê Lưu Oanh. Giáo trình lí luận văn học (Túc phẩm và thể loại văn học). Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm Ha Nội. 28 - 33 * Tran Dinh Sử (Chủ biến), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam.
Li luận vẫn học - Tép 2 (Tác phẩm và thẻ loại van học).Hà Nội: NXB Dai học Su phạm Ha Nội.30— 35 Trang | 10 và nội dung, phân biệt với thực tại ngôn từ khác. Đây là những yếu tố cơ bản, quan trọng, điều kiện cần cho sự tồn tại của VBVH. Mặt khác, dưới góc độ loại hình học, VBVH là một san phẩm nghệ thuật, sáng tạo hình tượng bằng hư cau, tưởng tượng, sử dụng chỉ tiết, hình ảnh, biểu tượng. Ngoài những đặc diém chung của một VB ngôn tir, VBVH còn có những đặc điểm riêng dé phân biệt với các loại VB khác: Thứ nhất, VBVH mang tinh hư cau.
VBVH được tác giả viết ra từ trong thé giới tưởng tượng, là sản phẩm của trí tưởng tượng. Tính chất này đánh dấu VBVH là một loại khác so với các loại VB thực dung, khang định quyền sáng tạo của nha văn và tính độc lập, khép kin của VBVH. Tinh hư cau gắn liên với thé giới hình tượng do nhà văn sáng tạo ra. Cho nên, lời văn là lời của các hình tượng nói về những điều trong thé giới hình tượng nên cũng chi mang tinh hình tượng mà thôi, nghĩa là tat cả đều là hư cầu.
do tác giả tưởng tượng, sang tạo. Thứ hai, VBVH xuất hiện trong quá trình tương tác giữa người đọc và ngôn từ nên nó mang tinh sinh thành. VBVH không dùng từ ngữ trong từ điển như công cụ dé xưng/ gọi sự vật, hiện tượng như trong giao tiếp thông thường, mà sử dụng từ ngữ như phát hiện lần đầu dé biêu diễn cam xúc, rung động vẻ sự vật. Câu chữ do rung động khác thường gợi ra, đến lượt mình, câu chữ ấy lại gợi ra một sự vận động của ngoại cảnh, một trạng thái tinh cảm của người đọc.
Tức 1a, điều này nhắn mạnh vào khả năng tạo nghĩa của VBVH sau mỗi lần có quá trình tiếp nhận của người đọc. Do đó, VBVH cũng có tính nội chỉ, nghĩa là gợi ra những rung động trong tâm hồn cúa người đọc. Thứ ba, VBVH có tính “nôi bat” khác thường. Điều đó biéu hiện VB sử dụng ngôn ngữ nhưng lại có xu hướng tái tạo ngôn ngữ, mở rộng ngôn ngữ, tìm những kết hợp mới mà ngôn ngữ thường không dùng đề tạo ngôn ngữ.
Ngôn ngữ thê hiện cái giới hạn hiểu biết của con người đối với thể giới (ngôn ngữ là phương thức ton tại của con người trong thể giới, con người nhìn nhận và tiếp xúc với thé giới qua ngôn ngữ). Dé xoá bỏ giới hạn đó, con người không ngừng lạ hóa ngôn ngữ giao tiếp thông thường bằng những phương tiện đặc biệt nhim mở rộng, sáng tạo nhiều cấu trúc ngôn ngữ mới, tiêu biểu nhất là ngôn từ văn học. Thứ te, VBVH sử dụng tông hợp mọi yếu tố ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng làm cho moi yếu tố đều có ý nghĩa trong văn học. Các yêu tô đó được chọn lọc, trau chuốt, được tô chức đặc biệt bằng nhiều cách khác nhau được đưa vào trong một quan hệ đặc biệt Trang | 11 làm cho VBVH biêu hiện một ý nghĩa mà không thé chuyên địch thành cách nói khác mà không làm thay đổi, mat mát ý nghĩa của VB được sáng tạo.
Ngoài ra, VBVH còn được đan đệt với các VB khác hoặc là sự kiến tạo khúc xạ các yếu tố của VB khác, được gọi là tính liên VB. Thứ năm, VBVH là một đối tượng thâm mi, được hiểu ở tính chất độc lập tách rời với ngữ cảnh, hòan cảnh xã hội, có quan hệ hư cấu với thể giới thực, kết cầu hình thức tác động đến tri giác, trí tưởng tượng đa dạng, phong phú thống nhất với nội dung tỉnh than, trở thành đối tượng được thưởng thức, phê bình, tiếp nhận của người đọc. Từ đó, người đọc khám phá được ý nghĩa của văn học theo cách riêng của mình. đặc diém của VBVH dưới góc độ loại hình học ngoài những đặc điểm chung của VB ngôn từ, còn mang những đặc điểm khu biệt với các loại VB khác qua một sỐ đặc trưng sau: - tính hư cấu - tính sinh thành - tạo nghĩa trong quá trình đọc, tính nội chỉ gợi ra những cảm xúc nơi người đọc - tính “nỗi bat” khác thường - lạ hóa ngôn ngữ giao tiếp thông thường bằng những phương tiện đặc biệt nhằm mở rộng.
sáng tạo nhiều cau trúc ngôn ngữ mới - sử dụng tong hợp mọi yếu tô ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng làm cho mọi yếu tô đều có ý nghĩa trong văn học: - tinh liên VB - một đối tượng tham mi được thưởng thức, phê bình, tiếp nhận của người đọc, qua đó, người đọc khám phá được ý nghĩa của văn học theo cách riêng của mình. Truyền thong chia ba của phương Tây Tài liệu Li lưận văn học — Tập 2 (Tác phẩm và thể loại văn hoc) '", các tác già đã đề cập đến Aristote là người sớm nhất đề xuất phân biệt VBVH thảnh ba loại trong công trình Nghe thuật thi ca, xuất phát từ phương thức phản ánh hiện thực của chúng — cách chia cô xưa và phô biển nhất ở phương Tây, bao gồm: Thứ nhất, như Homer kẻ về một sự kiện như về một cái gì đó ngoài mình. Thứ hai, người mô phỏng là chính là bản thân !9 Trận Dinh Sit (Chủ biên). La Khắc Hòa, Phủng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam.
Li luận văn học - Tập 2 (Tác phẩm và thé loại văn hoc). NXB Đại học Su phạm Ha Nội. 235 Trang | 12 anh ta, không thay đôi bộ mặt của mình. Thứ ba, trình bay mọi nhân vật được miéu ta như là những người hành động và hoạt động.
Ba loại đó bao gồm là: tu sự, trữ tình, kịch. Cũng trong tài liệu, các tác giả đã giới thiệu bài bao Sự phân chia thơ ra loại và kiểu (1944) của Bielinski đã chi tiết hóa ba loại VBVH (tự sự, trừ tình, kịch) theo những tiêu chí sâu hơn, dựa vào yêu cầu miêu tả tính cách và thé hiện tư tưởng tinh cảm nha văn/ nhà thơ mà mình phân loại. Theo ông, sự phân loại cụ thé như sau: Loại tự sự tai hiện đời sông thông qua việc tái hiện, miêu ta các sự kiện. Trong các sự kiện, tư tưởng, tình cảm của nhà văn thâm nhập vào các hành động bên ngoài của nhân vật, làm cho không phân biệt được nhau nữa.
Ở loại này, tác giả có thẻ đứng ngoài mà kẻ, có thé dé nhân vật tự kẻ, không bị hạn chế nào, sự phản ánh hết sức sâu rộng, chi tiết. Loại này bao gồm: thơ tự sự, tiêu thuyết, ngụ ngôn. Loại trữ tinh thông qua sự bộc lộ tình cảm của tác gia ma phan ánh hiện thực. Tác giả là người trực tiếp bộc lộ cảm xúc và tình cảm yêu, ghét của mình trước hiện thực đời sống.
Loại nay không có cốt truyện hòan chính, dung lượng thường ngắn, bao gôm cá văn xuôi trữ tinh. Loại kịch đem nhân vật đặt lên sân khẩu đẻ chúng tự biếu hiện qua hành động của chúng. Nó giống tự sự ở chỗ “có những sự kiện vốn là sự thông nhất của các lực lượng chủ quan và khách quan đang phát triển" (Trần Đình Sử, La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam, 2021, 236) nhưng những sự kiện này không thuần tuý là bên ngoài và tự nhiên điển ra mà là có sự chuẩn bị. Loại nảy vừa có cốt truyện hòan chỉnh vừa có yếu tổ trữ tình.
Bao gồm: bi kịch, hài kịch, chính kịch. Nhìn chung, cách chia ba này chủ yếu dựa vào phương thức sáng tạo hình tượng nghệ thuật. Tisự do tac gia dùng lời của mình thuật lại các sự kiện, chú trọng tính hòan chỉnh của đời song và tính các của nhân vật. 7rit tinh do tac gia trực tiếp bộc lộ cảm xúc của mình, bỏ qua cốt truyện, các chỉ tiết, nhân vật.
Kich chủ yếu do nhân vật trong tác pham dùng ngôn ngữ, hành động dé trình diễn. Tuy nhiên, cách chia ba này chi chú trọng vào yếu tô chủ thé và đặc trưng vẻ nội dung của thé loại mà bỏ qua cách t6 chức ngôn ngữ VB (hình thức/ thé văn). Cách phân chia nay chưa được rạch ròi. cụ thé vì chúng ta có thé thay trong kịch có đặc điểm của tự sự (có cốt truyện) và yếu tổ của trữ tình.
Hơn nữa, cách chia ba này bỏ mặc các tiêu chí về ngôn ngữ, ket cau, thé thức của các thé loại văn học khiến cho một số thé loại có Trang | 13 tính chất khác nhau nhưng lại xếp chung một loại. Chang hạn, truyện thơ, tiêu thuyết, kí sự là các loại văn học khác nhau nhưng lại nằm chung vào loại tự sự. Truyền thống chia bon của phương Đông Từ việc tìm hiểu tài liệu Li luận văn học — Tập 2 (Tác phẩm và thể loại văn hoc)", chúng tôi khái quát cách phân loại VBVH theo truyền thông chia bốn của phương Đông (Trung Quốc) như sau: Ở Trung Quốc, sự phân chia thẻ loại loại VBVH sớm nhất chỉ có hai loại: thơ va văn Xuôi (tản văn). Rồi lần lượt các công trình Điền luận của Tào Phi, Văn phú của Lục cơ, Văn chương lưu biệt luận của Chap Ngu, Văn tâm điêu Long của Lưu Hiệp.
đã đề cập, phát trién sự phân loại nhưng tất cả cách chia đa phần đều miêu nhiều ở bề ngoài, như dựa vào thé văn, công dụng, đề tài nên trở nên vụn vặt, phon tạp. Đến thời Tong, Nguyên, kịch và tiêu thuyết phát triển, nhưng bị giới nghệ sĩ phong kiến thời đó xem thường, nên cũng không được xép vào dé phân loại. Cho đến cuối đời nhà Thanh, ngành phiên dịch các kịch, truyện phương Tây nên nó dan được chap nhận, coi trọng trong nước. Từ đó, các sách sở, báo chí Trung Quốc công nhận văn học có bốn loại như sau: thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch.
Sự phân loại nảy có sự kết hợp của truyền thông phân loại của Trung Quốc kết hợp các tiêu chí phân loại của phương Tây. Cách “chia bốn” của Trung Quốc, cụ thé là: Thơ ca gồm thơ trữ tình va thơ tự sự vì cách miêu tả nhân vật, kết cấu ngôn ngữ tác phâm có nhiều điểm chung.