Mở đầu bài báo cáo .- con Hntrrgeisirrvee 106 Hình 3. NI - trình bày cách xử lý mẫu số liệu. 2-22 zZ£zz£xze+ 106 Hình 3. NI- Kết quả tính các số đặc trưng đo xu thé trung tam của mẫu số liệu 13613 3911551 1925:6013 12131995 13311821182151315925219631221152118511435205351225103133512420545359525523:50807351343739232940:102 5 107 Hình 3.
NI - Nhận xét về mẫu số liệu ghép nhóm. NI- Dé xuất giải pháp giảm thiêu sự ảnh hưởng do gia tăng dân số 109 Hình 3. N2 - Mo dau bài báo cáo với van dé sử dụng túi nilon. N2 - Trình bày cách xử lý mẫu số liệu.
N2- Kết quả tinh các số đặc trưng do xu thé trung tâm của mau số liệu dau chân sinh thái carbon của 158 học sinh. N2 — Trình bay ý nghĩa của số trung bình — trung vị. N2 - Đề xuất giải pháp giảm thiểu sy ảnh hưởng do gia tăng dan số Z8185š1182iã8437885158511ã5335553ã2315455ã41318ã818ã838i954738358325388378883885175817843743185511859385318ã81545342435ãZ1182888ã58 112 Hình 3. N3- Nhận xét về mẫu số liệu ghép nhóm qua số trung bình.
N3 - Dé xuất giải pháp giảm dau chân carbon. N3 — Dẫn dat đến nhiệm vụ 2 bằng định nghĩa Ngày trái đất vượt NGUODHE:. N3 - Đề xuất giải pháp giảm thiểu sự ảnh hưởng do gia tang dan số Hình 3. N4 - Kết quả tính các số đặc trưng đo xu thế trung tâm của mẫu số liệu dấu chân sinh thái carbon của 158 BQÊ SHNNcicsiiissiiattisattzsiisag12214633163311653563156855636588586 115 Hình 3.
N4 - Nhận xét về các số đặc trưng đo xu thé trung tâm của mẫu ghép BH :::¿2525505125225156521231559423451695356455633548508353895858498683395358413833553838đ84690350336953893530485833834836g8g: 116 Hình 3. N4 - Nhận xét về mẫu số liệu ghép nhóm. N4 - Đề xuất giải pháp giảm dau chân carbon. Câu tra lời trong phiếu ghi nhận ý kiến của học sinh sau khi học chủ dé giiš5ã1881ã84894g1ã8ã3366ỹ38888ã189ã1184i848ã155ã83388ã8ã588ã53ãã86354sã35ã3535488ã184351584333664s5ã6ã38g815833848ã115ã88a8EA 121 Hình 3.
Hình ảnh mô ta chủ dé do học sinh nhóm 4 vẽ.- cee 122 DANH MỤC TU VIET TAT MỞ ĐÀU 1. Lý đo lựa chọn đề tài Những năm gần đây, phát triển bền vững dan trở nên phô biến và trở thành mối quan tâm cúa toàn cầu. Việc thiểu hiéu biết hoặc thiểu tôn trọng thiên nhiên và môi trường thường là nguyên nhân dẫn đến sự biến đôi khí hậu. gây ra những thiệt hại khi có thiên tai.
Năm 1987, trong báo cáo “Tuong lai chung của chúng ta” (Our Common Future) của Ủy ban Thế giới về Môi trường va Phát triển, phát triển bên vững được định là sự phát trién đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau; và định nghĩa được hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh thé giới về phát triển bền vững (năm 2002), là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hòa giữa ba mặt cúa sự phát triển gầm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trưởng. Như vậy, rõ rang con người chính là trung tâm trong quá trình thực hiện đề đạt đến ba điều trên trên. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết 57/254 về “Thap ki của Liên Hợp Quốc về Giáo dục vì Phát trién Bên vững (2005-2014)", đưa ra mục tiêu là thúc day và quan triệt dé giáo dục trở thành công cụ chuan bị cho thé hệ trẻ trở thành những công dan có trách nhiệm và định hình một xã hội phát triển một cách vững bên trong tương lai. Năm 2015, Nghị sự 2030 với sự tham gia của 193 quốc gia trên thể giới, đã đạt được thoả thuận va đặt ra 17 mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals) định hướng cho kế hoạch hành động hướng đến sự phát triển tương lai ben vững của thé giới.
Dé tạo ra một thé giới bền vững hơn và tham gia với các van dé liên quan đến tinh bên vững như được mô tả trong 17 mục tiêu này, các cá nhân phải trở thành những người tạo ra sự thay đôi bên vững. Điều này đỏi hỏi mỗi cá nhân phải được trang bị kiến thức, kỹ năng, giá trị và thái độ để đóng góp vào sự phát triển bền vững. Vì vậy, giáo dục có ý nghĩa quyết định đối với việc đạt được phát trién bên vững. Giáo dục vì sự phát triển bền vững (Education for Sustainable Development) là một nên giáo dục nuôi dưỡng những người tạo ra một xã hội bên vững, là một yêu cầu cấp thiết trong thé ki XXI.
Việt Nam là một nước đang phát trién nên việc đôi mới giáo dục đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững là điều cân thiết cho sự phát trién bền vững. Theo Quyết định số 622/QD-TTg ngày 10/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã đưa ra kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vig. Việc ban hành Chương trình giáo đục phô 7 thông 2018 là một phần quan trọng của kế hoạch. Trong đó, ở giai đoạn từ lớp 10 đến 12.
HS bat đầu có nhận thức vẻ các van dé xã hội dé có cái nhìn tông quát trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp. Biến đổi khí hậu, mat đa dang sinh học hay sự nghèo đói và bat bình đăng trong xã hội là những khái niệm mà HS cần được tiếp cận và tim hiệu. Từ đó, HS có thé phát triển những phẩm chat, năng lực dé vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết các van dé trong đời sống. Đây lả yêu câu, cũng là điểm mới nồi bật của chương trình Giáo dục phô thông tông thé 2018 nói chung, chương trình Giáo dục Phé thông môn Toán 2018 nói riêng.
Như vậy, định hướng giáo dục vì sự phát trién bên vững là một quan điểm dạy học tối ưu đề đạt mục tiêu thứ tư - đảm bảo nên giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc day các cơ hội học tập suốt đời cho tat cả mọi người (Thủ tướng chính phú, 2017). Quan điểm xây dựng của Chương trình giáo dục phô thông môn Toán 2018 (Bộ Giáo dục và Dao tạo, 2018) là chú trọng tính ứng dụng, gắn kết với thực tiễn, gắn với xu hướng phát triên hiện đại của kinh tế, khoa học, đời sống xã hội và những van dé cap thiết có tính toàn cầu, phát triển bền vững là một trong các van dé đó. Toán học không chỉ là môn học dựa trên lí luận trừu tượng và tính toán chính xác, mà còn là công cụ quan trọng giúp con người hiểu và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Toán học là nén tảng cho sự phát triển tư duy phê phán của công dan, cho phép họ phân tích.
suy luận và truyền đạt các khái niệm, cấu trúc và ý tưởng toán học. Việc tích hợp hiệu quả giáo dục vì sự phát triển bên vững vào giáo dục toán học, học sinh sẽ được chuẩn bị tốt hơn đẻ đối mặt với những thách thức ben vững hiện nay và tương lai, hiểu các cách hệ thong tự nhiên và xã hội được kết nỗi với nhau và áp dụng các kỹ năng giải quyết vẫn đề được rèn luyện trong suốt quá trình giáo dục Toán học dé đưa ra quyết định dé giải quyết những thách thức bèn vững trong thé giới thực. Do đó, day học Toán tích hợp theo hướng giáo dục phát trién bền vững là rat cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, xu hướng giáo đực vì sự phát triển bèn vững đem lại hiệu quả trong quá trình thay đôi nhận thức và thái độ của người học đổi với môi trường (Algurén, B, 2021).
Các quốc gia Đông Nam Á đã chính thức kí cam kết sẽ đạt được mục tiêu phát triển ben vững trong các văn kiện Nghị sự 2030. Tuy nhiên tính tới thời điểm hiện tai, các quốc gia Dong Nam A vẫn chưa thực hiện được (Varrall, M, 2020)). Điều nay đặt ra cơ hội và thách thức cho việc nghiên cứu ứng dụng su phạm day học Toán học kết hợp giáo dục vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên tính đến 8 hiện tại vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thé nào về đạy học Toán theo định hướng giáo dục vì sự phát trién bên vững.
Xuất phát từ các lí do trên và tầm quan trọng của Toán học với phát triển bền vững, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu “Dạy học Toán hướng đến sự phát triển bền vững” nhằm tìm ra một hướng đi cho việc day học Toán theo định hướng giáo dục vì sự phát triển bền vững là thực sự can thiết. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2. Tổng quan về phát triển bền vững và giáo duc vì sự phát triển bền vững trên thé giới và Việt Nam > Phát triển bền vững và giáo duc vì sự phát triển bền vững trên thế giới Phát triển bên vững và Giáo dục vì sự phát triển bên vững là những khái niệm đã trải qua một quá trình dai hình thành và phát triển. Dé hiểu rõ hơn vẻ sự tiến triển này, có nhiều bài báo và công trình nghiên cứu đã đưa ra các dẫu mốc chính đáng chú ý liên quan đến phát triển bền vững và giáo dục vì sự phát trién bèn vững.
Khái niệm phát triển bên vững đã được đưa ra lần đầu tiên vào những năm 1970, trong "Chương trình Con người và Sinh quyền" của UNESCO vào năm 1971. Sau đó, thuật ngữ phát triển bền vững xuất hiện trong "Chiến lược Bảo tồn Thể giới" năm 1980 do ba tổ chức IUCN (International Union for Conservation of Nature), UNEP (United Nations Environment Programme) va WWE (World Wide Fund For Nature) phat hanh. Chiến lược này nhắn mạnh mục tiêu chính là dam bảo phát triển bền vững thông qua việc bảo vệ nguôn tài nguyên sinh học. Trong giai đoạn nay, phát triển bền vững được hiểu theo nghĩa hẹp, tập trung vào sự bèn vững sinh thái và nhắn mạnh tam quan trọng của việc bảo tôn nguồn tài nguyên sinh học.
Đến năm 1987, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ ràng trong báo cáo của Brundtland có tựa đề - “Tuong Lai Chung của Chúng Ta” (Our Common Future), thuộc Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission on Environment and Development). Báo cáo này mô tả phát triển bên vững như là quá trình phát triển thỏa mãn nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của thé hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu câu của họ. Chương 36 của Chương trình Nghị sự 21, được thông qua năm 1992, da nhắn mạnh tam quan trọng của giáo duc, dao tao va nâng cao nhận thức xã hội trong việc thúc day phát triển bèn ving. Tiếp nối, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (Riot+10) đã đề xuất sáng kiến "Thập kỷ Giáo dục vì Sự phát 9 triển Bên Vig” từ năm 2005 đến năm 2014 (IUCN, 2012).