Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong thực hành xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện ba vì và đan phượng hà nội

Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại Hà Nội.

Trường đại học

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Y tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2007

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình mắc và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

1.2. Thực trạng chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ

1.3. Vai trò của người mẹ trong chăm sóc trẻ

1.4. Thực trạng chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ

1.5. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ

1.6. Thực trạng điều trị trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của cán bộ y tế

1.7. Vai trò của cán bộ y tế tuyến cơ sở

1.8. Thực trạng điều trị trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp của cán bộ y tế

1.9. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của cán bộ y tế

1.10. Thực trạng bán thuốc cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của người bán thuốc

1.11. Vai trò của người bán thuốc trong chăm sóc sức khỏe trẻ em

1.12. Thực trạng bán thuốc cho trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

1.13. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành bán thuốc

1.14. Nghiên cứu can thiệp thông tin- giáo dục-truyền thông thay đổi hành vi chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Các khái niệm, định nghĩa dùng trong nghiên cứu

2.5. Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em dưới 5 tuổi

2.6. Phác đồ xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

2.7. Các khái niệm và tiêu chí đánh giá được dùng trong nghiên cứu

2.8. Phương pháp nghiên cứu

2.9. Thiết kế nghiên cứu

2.10. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.11. Chọn mẫu nghiên cứu

2.12. Phương pháp thu thập số liệu

2.13. Biện pháp khống chế sai số

2.14. Phương pháp xử lý số liệu

2.15. Xây dựng và triển khai can thiệp

2.16. Nguyên tắc, tiêu chí xây dựng mô hình can thiệp

2.17. Nội dung can thiệp

2.18. Đối tượng thực hiện can thiệp

2.19. Tài liệu can thiệp

2.20. Tổ chức triển khai can thiệp

2.21. Các chỉ số đánh giá can thiệp

2.22. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ

3.2. Một số đặc điểm của đối tượng bà mẹ

3.3. Hiệu quả của can thiệp thay đổi kiến thức của bà mẹ

3.4. Hiệu quả của can thiệp thay đổi thực hành của bà mẹ

3.5. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành điều trị trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của cán bộ y tế

3.6. Đặc điểm của đối tượng cán bộ y tế

3.7. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức của cán bộ y tế

3.8. Hiệu quả của can thiệp thay đổi thực hành của cán bộ y tế

3.9. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành bán thuốc cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của người bán thuốc

3.10. Đặc điểm của đối tượng người bán thuốc

3.11. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức của người bán thuốc

3.12. Hiệu quả can thiệp thay đổi thực hành của người bán thuốc

3.13. Tính khả thi và khả năng duy trì của can thiệp qua ý kiến của đối tượng nghiên cứu

3.13.1. Can thiệp cho bà mẹ

3.13.2. Can thiệp cho cán bộ y tế

3.13.3. Can thiệp cho người bán thuốc

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ

4.2. Đặc điểm mẫu nghiên cứu bà mẹ

4.3. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức của bà mẹ

4.4. Hiệu quả can thiệp thay đổi thực hành của bà mẹ

4.5. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành điều trị trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của cán bộ y tế

4.6. Đặc điểm mẫu nghiên cứu cán bộ y tế

4.7. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức của cán bộ y tế

4.8. Hiệu quả can thiệp thay đổi thực hành của cán bộ y tế

4.9. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thực hành bán thuốc cho trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của người bán thuốc

4.10. Đặc điểm mẫu nghiên cứu người bán thuốc

4.11. Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức của người bán thuốc

4.12. Hiệu quả can thiệp thực hành bán thuốc của người bán thuốc

4.13. Bàn luận về tính mới, tính khả thi và khả năng duy trì của can thiệp

4.14. Hạn chế của nghiên cứu

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả can thiệp cộng đồng trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi. Việc can thiệp cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và thực hành chăm sóc trẻ là rất cần thiết. Các chương trình can thiệp đã được triển khai tại nhiều địa phương, với mục tiêu giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh này.

1.1. Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính gây ra hàng triệu ca mắc và tử vong mỗi năm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh này chiếm tỷ lệ cao trong số các bệnh lý ở trẻ em, đặc biệt ở các nước đang phát triển.

1.2. Vai trò của can thiệp cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe trẻ em

Can thiệp cộng đồng giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng của bà mẹ, cán bộ y tế và người bán thuốc trong việc nhận biết và xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, từ đó giảm thiểu tỷ lệ tử vong.

II. Vấn đề và thách thức trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc can thiệp, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc nhận thức và thực hành chăm sóc trẻ. Việc chậm trễ trong tiếp cận dịch vụ y tế và thiếu kiến thức về bệnh lý là những vấn đề chính.

2.1. Thực trạng nhận thức của bà mẹ về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Nhiều bà mẹ vẫn chưa nhận thức đầy đủ về các dấu hiệu bệnh cần đưa trẻ đi khám. Điều này dẫn đến việc chậm trễ trong việc điều trị, làm tăng nguy cơ tử vong.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế

Nhiều gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế do khoảng cách địa lý, chi phí và thiếu thông tin. Điều này ảnh hưởng đến khả năng chăm sóc sức khỏe cho trẻ.

III. Phương pháp can thiệp hiệu quả trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

Các phương pháp can thiệp như giáo dục sức khỏe, truyền thông và đào tạo cho bà mẹ, cán bộ y tế và người bán thuốc đã được áp dụng để nâng cao nhận thức và thực hành chăm sóc trẻ.

3.1. Giáo dục sức khỏe cho bà mẹ

Giáo dục sức khỏe giúp bà mẹ nhận biết các dấu hiệu bệnh và cách chăm sóc trẻ đúng cách. Các chương trình đã được triển khai tại nhiều địa phương với sự tham gia của cộng đồng.

3.2. Đào tạo cán bộ y tế và người bán thuốc

Đào tạo cán bộ y tế và người bán thuốc về cách xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là rất quan trọng. Họ cần nắm vững kiến thức để tư vấn và điều trị cho trẻ một cách hiệu quả.

IV. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả can thiệp cộng đồng

Nghiên cứu cho thấy can thiệp cộng đồng đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ. Tỷ lệ trẻ được chăm sóc đúng cách đã tăng lên đáng kể.

4.1. Tác động của can thiệp đến kiến thức của bà mẹ

Sau can thiệp, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đã tăng lên rõ rệt. Điều này cho thấy sự cần thiết của các chương trình giáo dục sức khỏe.

4.2. Kết quả thực hành chăm sóc trẻ sau can thiệp

Thực hành chăm sóc trẻ của bà mẹ đã được cải thiện, với nhiều bà mẹ biết cách xử trí đúng khi trẻ có dấu hiệu bệnh. Điều này góp phần giảm tỷ lệ mắc và tử vong.

V. Kết luận và hướng đi tương lai trong can thiệp cộng đồng

Can thiệp cộng đồng là một giải pháp hiệu quả trong việc xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi. Cần tiếp tục duy trì và mở rộng các chương trình can thiệp để đạt được kết quả tốt hơn.

5.1. Tầm quan trọng của việc duy trì can thiệp

Duy trì các chương trình can thiệp là cần thiết để đảm bảo kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ được cải thiện liên tục. Cần có sự hỗ trợ từ chính quyền và cộng đồng.

5.2. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả can thiệp

Cần nghiên cứu và áp dụng các giải pháp mới, như sử dụng công nghệ thông tin trong giáo dục sức khỏe, để nâng cao hiệu quả can thiệp cộng đồng.

17/07/2025
Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong thực hành xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện ba vì và đan phượng hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình mắc và tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính  Trên thế giới Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) chiếm khoảng một nửa số ca mắc bệnh của trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới với tần suất mắc trung bình từ 4 đến 9 lần/trẻ/năm [142]. Các nước càng chậm phát triển, có mức thu nhập và trình độ học vấn của người dân càng thấp thì tỷ lệ mắc và tử vong do NKHHCT càng cao [103]. Tần suất NKHHCT của trẻ dưới 1 tuổi ở Mỹ là 4,5 lần/trẻ/năm.

Trong khi đó tại Guatemala là 8,3 lần/trẻ/năm hay ở Nigeria là 7,5 lần/trẻ/năm [135]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy số trẻ đi khám và nhập viện vì NKHHCT cũng chiếm tỷ lệ cao. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) cho thấy tỷ lệ trẻ đi khám do NKHHCT chiếm hơn 1/3 tổng số lượt khám cho trẻ dưới 5 tuổi và trên 30% trẻ phải nhập viện nguyên nhân do NKHHCT [90], [102]. Không chỉ chiếm tỷ lệ mắc bệnh cao, NKHHCT còn là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi tại bệnh viện.

Cứ 2 đến 3 trẻ tử vong thì có 1 trẻ tử vong do NKHHCT. Theo TCYTTG, viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu (chiếm 19%), cao hơn cả tiêu chảy (18%), sốt rét (8%) hoặc nhiễm khuẩn sơ sinh (10%) gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi [103]. Có tới 90% ca tử vong do NKHHCT ở các nước đang phát triển [90]. Tại Bangladesh, năm 2002, mỗi ngày có gần 400 trẻ tử vong do NKHHCT [67].

Năm 1996, ở Ethiopia, NKHHCT gây ra khoảng 20% số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [91] và khoảng 33% tử vong sơ sinh [110]. 4 Theo số liệu của TCYTTG, NKHHCT là nguyên nhân hàng đầu làm mất những năm sống điều chỉnh theo thương tật (DALYs: Disability Adjusted Life Years) ở trẻ dưới 5 tuổi[140]. NKHHCT gây ra khoảng 8,2% trong tổng số gánh nặng tàn tật và tử vong ở cả người lớn và trẻ em[115]. Với tỷ lệ mắc và tử vong cao như vậy NKHHCT sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình cũng như là gánh nặng cho hệ thống y tế và kinh tế đất nước vì phải tốn những khoản chi phí lớn cho việc chăm sóc, điều trị trẻ [11].

 Tại Việt Nam Cũng tương tự như ở các nước đang phát triển khác, NKHHCT đang là nguyên nhân hàng đầu gây mắc và tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi. Với khoảng 10 triệu trẻ dưới 5 tuổi, ước tính mỗi năm có khoảng 30 đến 80 triệu lượt trẻ NKHHCT các thể [12]. Số liệu thống kê tại các bệnh viện từ năm 1996 đến năm 2000 cho thấy số trẻ bị NKHHCT luôn chiếm khoảng hơn một phần ba tổng số trẻ đến khám và chiếm khoảng từ 30% đến 40% tổng số trẻ phải nhập viện để điều trị [39]. Theo Niên giám Thống kê Y tế năm 2009, nhóm bệnh NKHHCT đứng đầu trong các bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất tại bệnh viện [6].

Theo số liệu của Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia, cứ 100 trẻ đến khám tại cơ ở y tế lại có 26 trẻ bị NKHHCT. Hiện nay, với tần suất mắc khoảng 5 lần/trẻ/năm, ước tính chỉ có khoảng 0,7% số lần trẻ mắc NKHHCT được quản lý tại cơ sở y tế [13]. Trong số trẻ trong diện quản lý của Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia có tới 3% trẻ đến cơ sở y tế khi đã quá nặng [12]. Trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ em, viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (31,3%), cao gấp 6 lần so với tiêu chảy (5,1%).

Trong số tử vong do viêm phổi có tới 48% trẻ đã không được chăm sóc y tế trước khi tử vong [18]. Số liệu từ bệnh viện các tuyến cho thấy tử vong do NKHHCT chiếm 40- 60% 5 tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó chủ yếu tử vong do viêm phổi [16]. Nghiên cứu tình hình tử vong cho thấy, tỷ lệ tử vong trước 24 giờ do NKHHCT đặc biệt cao trong nhóm trẻ sơ sinh (92,7%) và nhóm trẻ từ 1 đến 12 tháng tuổi (72%) [47]. Thực trạng chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ 1.

Vai trò của người mẹ trong chăm sóc trẻ Một trong những vai trò quan trọng của phụ nữ trong gia đình là chăm sóc và nuôi dạy con cái [42]. Tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia châu Á khác, việc chăm sóc con cái chủ yếu do người mẹ đảm trách [1], [58]. Công việc chăm sóc con cái của người mẹ bao gồm việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cả lúc trẻ khỏe mạnh lẫn lúc ốm đau [65]. Một nghiên cứu tại nông thôn Việt Nam năm 1996 cho thấy, 90,8% việc nuôi dạy trẻ do người mẹ đảm nhận [41].

Vì vậy việc thay đổi hành vi chăm sóc trẻ của bà mẹ sẽ góp phần quan trọng giảm tỷ lệ mắc và tử vong trẻ em [114]. Thực trạng chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của bà mẹ Chăm sóc cho trẻ NKHHCT bắt đầu bằng việc phát hiện sớm dấu hiệu bệnh. Đưa trẻ ngay đến cơ sở y tế khi có các dấu hiệu bệnh cần khám, điều trị ngay. Cho trẻ ăn tốt hơn, uống nhiều nước và thường xuyên theo dõi diễn biến bệnh.

Dùng thuốc theo chỉ định của CBYT [9], [8]. Kiến thức, thực hành nhận biết dấu hiệu bệnh  Trên thế giới Trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Mặc dù có vai trò rất quan trọng, mang tính quyết định đến việc chăm sóc và điều trị cho trẻ, các nghiên cứu đều cho thấy kiến 6 thức, thái độ, niềm tin và hành vi xử trí ban đầu của bà mẹ khi trẻ có dấu hiệu NKHHCT còn nhiều vấn đề cần được cải thiện [117]. Nghiên cứu năm 1994 ở Mindoro, Philippines, mặc dù các bà mẹ nói rằng họ đã điều trị sớm, kết quả phỏng vấn sâu cho thấy phần lớn đã chờ đợi từ 5 đến 7 ngày kể từ khi có những dấu hiệu bệnh đầu tiên.

Phần lớn bà mẹ biết khó thở là dấu hiệu NKHHCT nặng. Nhưng chỉ có một vài người biết về các triệu chứng thở nhanh và rút lõm lồng ngực (RLLN)[112]. Nghiên cứu, năm 2001, tại Bangladesh thấy rằng hầu hết bà mẹ không nhận biết được thở nhanh và RLLN là những chỉ báo quan trọng của bệnh viêm phổi nặng. Đa số bà mẹ không hề coi đây là dấu hiệu bệnh nặng [116].

Nghiên cứu tại Nepal, năm 2004, cũng cho thấy kiến thức nhận biết dấu hiệu cần đưa đi khám khi trẻ NKHHCT của bà mẹ còn rất kém. Không có bà mẹ nào biết đầy đủ các dấu hiệu, 10% bà mẹ không biết bất cứ dấu hiệu nào, khoảng một nửa số bà mẹ chỉ biết dấu hiệu sốt (51%). Chỉ có 45,2% biết trẻ ốm nặng hơn và 42,5% cho rằng trẻ không uống được là những dấu hiệu cần đưa đi khám [81].  Tại Việt Nam Mặc dù kiến thức nhận biết dấu hiệu NKHHCT của bà mẹ những năm gần đây tỏ ra có tốt hơn.

Điều tra Y tế Quốc gia năm 2002 cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức phòng và xử trí NKHHCT (43,5%) đồng đều ở nông thôn và thành thị, đồng thời cao hơn so với kiến thức về bệnh tiêu chảy (24,0%) và suy dinh dưỡng trẻ em (27,4%) [2]. Năm 2008, hầu hết các bà mẹ được hỏi tại Từ Liêm-Hà Nội (chiếm 83,3%) và Tiền Hải-Thái Bình (chiếm 96,7%) đã biết ít nhất 2 dấu hiệu bệnh cần phải đưa trẻ đi khám [44]. Kỹ năng nhận biết dấu hiệu bệnh, nhất là những dấu hiệu cần khám ngay, của bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ còn nhiều bất cập. Năm 2008, 7 nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ và cộng sự cho thấy chỉ có 5,0% bà mẹ nhận biết dấu hiệu không uống/bú được, 4,1% nhận biết dấu hiệu co giật và 3,4% nhận biết dấu hiệu ngủ li bì khó đánh thức.

Đối với hai dấu hiệu chỉ báo điển hình của bệnh viêm phổi, trong 4.800 bà mẹ được hỏi, chỉ có 37,3% nhận biết được các dấu hiệu thở ( thở khác thường hoặc thở nhanh hoặc khó thở) và chỉ có 0,9% biết dấu hiệu RLLN [53]. Kiến thức, thực hành tìm kiếm dịch vụ y tế Khi đã nhận biết được dấu hiệu bệnh của trẻ, việc lựa chọn cách xử trí ban đầu phù hợp có thể ảnh hưởng rất lớn đến diễn biến bệnh. Các bà mẹ cần biết phân biệt những dấu hiệu bệnh có thể để trẻ ở nhà tự chăm sóc, cũng như xác định khi nào thì cần đưa trẻ đến cơ sở y tế [101]. Thực tế, trừ những trường hợp ho, cảm lạnh thông thường còn khi mắc các thể bệnh NKHHCT khác trẻ được khám và điều trị theo hướng dẫn của CBYT.

 Trên thế giới Nghiên cứu 30 trường hợp NKHHCT nặng ở Ai Cập năm 1994, chỉ có 22 bà mẹ đã đưa con đi khám [99]. Năm 2003 trong nghiên cứu tại Kenya, chỉ có 87,1% bà mẹ cho biết sẽ đưa trẻ NKHHCT thể nặng đến trạm y tế [124]. Cách xử trí chủ yếu của bà mẹ Nepal khi trẻ ốm là mua thuốc tự điều trị (46,2%), đến khám tại cơ sở y tế (26,4%), điều trị bằng thuốc dân gian (8,9%), để trẻ tự khỏi (2,7%) và đi đến thầy lang (0,6%) [125].  Tại Việt Nam Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng nhận thấy kỹ năng tìm kiếm dịch vụ y tế cho trẻ NKHHCT của gia đình còn nhiều vấn đề cần được cải thiện.

Năm 2000, Chương trình Phòng chống NKHHCT Quốc gia điều tra 1231 ông bố 8 và 1216 bà mẹ có con dưới 5 tuổi. Kết quả cho thấy chỉ có 86% bố, mẹ cho rằng viêm phổi là một bệnh nguy hiểm cần đưa trẻ đi khám tại cơ sở y tế [10]. Mặc dù tự chữa bệnh không phải là hình thức tối ưu, trong nghiên cứu năm 2003 của Bùi Đức Dương, có tới 20,9% bà mẹ nói rằng sẽ tự chữa ở nhà nếu trẻ NKHHCT. Những cơ sở y tế bà mẹ thường tiếp cận đầu tiên là y tế tư (40,3%), trạm y tế xã (37,3%).

Lý do trẻ không được đưa đến bệnh viện là do không thuận tiện (64,3%), không đủ tiền chi trả (14,3%) [24]. Việc thiếu hiểu biết về dấu hiệu bệnh và cách xử trí trẻ bệnh cũng góp phần dẫn đến nguy cơ tử vong cao ở trẻ NKHHCT. Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cồ, năm 2003, cho thấy trong các ca tử vong có tới 5,3% số trẻ NKHHCT được đưa đến trạm y tế khi tình trạng bệnh đã nguy kịch, 39,2% đến khi bệnh đã nặng và đáng lưu ý hơn là có 26,1% trẻ đã chết tại nhà [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng trong xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp can thiệp cộng đồng nhằm cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ nhỏ. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục cộng đồng và nâng cao nhận thức về bệnh, từ đó giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và cải thiện sức khỏe cho trẻ em. Bài viết không chỉ mang lại thông tin hữu ích cho các bậc phụ huynh mà còn cho các chuyên gia y tế trong việc xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và can thiệp y tế liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu triển khai hiệu chỉnh liều vancomycin thông qua giám sát nồng độ thuốc trong máu trên bệnh nhân nhi tại bệnh viện sản nhi Nghệ An, nơi cung cấp thông tin về việc điều chỉnh liều thuốc cho trẻ em. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ phân tích tình hình sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng cho trẻ em tại bệnh viện sản nhi tỉnh Quảng Ninh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ em. Cuối cùng, Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số dấu ấn sinh học bệnh viêm khớp tự phát thiếu niên cũng là một tài liệu thú vị để tìm hiểu về các bệnh lý khác ở trẻ em. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe trẻ em và các phương pháp điều trị hiện có.