Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định nghĩa điều dưỡng Theo Florence Nightingale, 1860: Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ. Nhiệm vụ của người điều dưỡng * Theo thông tư 31/2021/TT- BYT ngày 28/12/2021, hướng dẫn điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong các bệnh viện, người điều dưỡng có 9 nhiệm vụ trong công tác chăm sóc người bệnh như sau: - Chăm sóc hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt - Chăm sóc dinh dưỡng - Chăm sóc về giấc ngủ và nghỉ ngơi - Chăm sóc vệ sinh cá nhân - Chăm sóc tinh thần - Thực hiện các quy trình chuyên môn kỹ thuật - Phục hồi chức năng cho người bệnh - Quản lý người bệnh - Truyền thông, giáo dục sức khỏe. * Nguyên tắc thực hành điều dưỡng.
Trong công tác chăm sóc người bệnh, Điều dưỡng có nhiệm vụ chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về thể chất và tinh thần. Theo học thuyết của Virgina Henderson, người bệnh có 14 nhu cầu cơ bản và nguyên tắc trong thực hành điều dưỡng là hỗ trợ người bệnh đáp ứng các nhu cầu đó: 1. Hỗ trợ NB trong hô hấp 2. Hỗ trợ người bệnh trong ăn uống 3.
Hỗ trợ người bệnh trong bài tiết 4. Hỗ trợ người bệnh trong tư thế, vận động: nằm, ngồi, đi đứng 5. Hỗ trợ người bệnh trong ngủ và nghỉ ngơi 6. Hỗ trợ người bệnh trong thay và mặc quân áo 7.
Hỗ trợ người bệnh trong duy trì thân nhiệt bình thường 5 8. Hỗ trợ người bệnh vệ sinh cá nhân 9. Hỗ trợ người bệnh tránh những nguy hiểm 10. Hỗ trợ tinh thần người bệnh 11.
Hỗ trợ người bệnh lao động, giải trí, rèn luyện thể lực 12. Hỗ trợ người bệnh trong giao tiếp 13. Tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo 14. Giúp NB có kiến thức y học thông tường liên quan đến bệnh tật của họ 1.
Đại cương về viêm phổi hậu Covid COVID-19 là bệnh truyền nhiễm, gây ra bởi vi rút SARS-CoV-2, bệnh có thể gây tổn thương ở phổi và nhiều cơ quan khác. Đa số những người mắc COVID-19 sẽ hồi phục trong một đến vài tuần tính từ khi nhiễm bệnh. Tuy nhiên, có một số người sau giai đoạn cấp tính vẫn có các triệu chứng kéo dài hoặc có các triệu chứng mới. Một số người không có triệu ở giai đoạn cấp nhưng lại xuất hiện các dấu hiệu bất thường ở nhiều cơ cơ quan/hệ cơ quan giai đoạn sau 4 tuần kể từ khi nhiễm.
Hướng dẫn của Viện Y tế và Chăm sóc sức khỏe Quốc gia Anh (National institute of Health and Care Excellence - NICE) cho thấy:Viêm phổi hậu covid là tình trạng viêm phổi tái phát trên người bệnh sau nhiễm covid từ 1 đến 3 tháng, mà xét nghiệm PCR covid đã cho kết quả âm tính. Viêm phổi hậu covid chính là một viêm phổi cộng đồng xảy ra trên người bệnh ở giai đoạn hậu covid. Khái niệm Viêm phổi là hiện tượng viêm nhiễm của nhu mô phổi bao gồm viêm các tiểu phế quản tận, ống phế nang, túi phế nang và tổ chức kẽ. Nguyên nhân do vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng, nấm và một số tác nhân nhưng không phải do vi khuẩn lao.
Hiện nay là Coronavirus disease 2019 (COVID-19), các vi rút mới cũng được coi là tác nhân gây bệnh quan trọng trong viêm phổi cộng đồng, đặt ra thách thức to lớn trong chẩn đoán và điều trị. Triệu chứng Đặc điểm triệu chứng lâm sàng viêm phổi biểu hiện lâm sàng thay đổi theo tuổi, độ nặng của bệnh và tác nhân gây bệnh. Triệu chứng cơ năng: - Ho: Là một triệu chứng thường gặp trong các bệnh lý NKHHCT. Tuy nhiên ho không đặc hiệu cho một bệnh nhiễm trùng hô hấp riêng biệt nào.
Đặc điểm là ho thường dai dẳng, dùng thuốc giảm ho ít hiệu quả [3], [4]. - Sốt: Là phản ứng thường gặp của cơ thể trước nhiễm khuẩn. Có thể sốt từ nhẹ đến rất cao. Sốt có thể liên tục hay dao động.
Nhiều trường hợp người bênh sốt cao, rét run trong bệnh cảnh nhiễm trùng nặng [4]. - Khò khè, cò cử: Khi viêm nhiễm, sự tăng tiết đờm rãi kết hợp sự co thắt làm hẹp lòng đường thở, cản trở thông khí, gây ra tiếng khò khè cò cử. - Khạc đờm: Tính chất của đờm dãi có thể thay đổi theo mức độ viêm nhiễm cũng như loại vi sinh vật gâybệnh trực tiếp. Đánh giá tính chất, số lượng, màu sắc, độ quánh dính, mùi của đờm dãi gợi ý cho chẩn đoán nguyên nhân [5].
- Đau ngực: Cần phân biệt đau ngực do thương tổn hệ thống hô hấp hay đau cơ thành ngực, hậu quả của các cơn ho kéo dài, liên tục [4], [5]. - Thở rít: Xuất hiện ở thì hít vào với âm sắc cao. Thở rít là hậu quả của viêm nhiễm, phù nề khu vực thanh khí quản, gây cản trở thông khí. Mặc dù triệu chứng này không gặp thường xuyên, nhưng thở rít là dấu hiệu lâm sàng quan trọng cần nhận biết và theo dõi.
- Các triệu chứng rối loạn của các cơ quan khác như thần kinh (kích thích, li bì hay co giật), tiêu hóa (ỉa lỏng, nôn), tim mạch (mạch nhanh) biểu hiện phụ thuộc từng bệnh cảnh cụ thể [7]. Triệu chứng thực thể: - Khó thở: Khó thở có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh. Tình trạng khó thở thể hiện bằng rối loạn nhịp thở. Xu hướng lúc đầu là tăng tần số, sau có thể chậm, không đều rồi ngừng thở.
Có thể thở kiểu Cheynes - Stock hay Kussmaul. Khi khó thở, người bệnh co kéo các cơ hô hấp, thể hiện bằng dấu hiệu rút lõm lồng ngực.Người bệnh vật vã, kích thích khi suy thở nặng [5]. - Rối loạn nhịp thở:nhịp thở là thông số thay đổi sớm nhất khi có tổn thương hệ thống hô hấp. Đánh giá tần số thở dựa vào lứa tuổi.Tùy từng mức độ nặng nhẹ của bệnh, nhịp thở có thể nhanh, chậm hay không đều.
Khi có cơn ngừng thở là biểu hiện của suy 7 hô hấp nặng [8], [9], [10]. Hay gặp trên lâm sàng là triệu chứng thở nhanh. Thở nhanh ở người bệnh được xác định khi: Người bệnh có nhịp thở ≥ 30 lần/phút; - Rút lõm lồng ngực: là hiện tượng phần dưới của lồng ngực bị lõm vào khi người bệnh hít vào. Nguyên nhân của triệu chứng này là do khi bị tổn thương đường hô hấp, phải thở gắng sức, các cơ hô hấp phải tăng hoạt động co bóp làm lồng ngực bị lõm vào, khi xuất hiện triệu chứng này thì phải nhận định bị viêm phổi nặng.
- Tiếng ran ở phổi: Là triệu chứng quan trọng để chẩn đoán VP. Tình trạng viêm tiết dịch ở trong lòng phế nang tạo ra ran ẩm nhỏ hay to hạt. Khi có tình trạng co thắt hay bít tắc đường thở, nghe phổi có ran rít, ran ngáy. Các ran phát hiện được có giá trị lớn trong chẩn đoán và tiên lượng bệnh [2], [11], [12].
- Tình trạng thông khí phổi: Có thể giảm hay tăng. Thường thông khí tăng ở giai đoạn đầu, thể hiện sự bù trừ, chống đỡ tình trạng suy thở. Sau đó người bệnhhay có hiện tượng giảm thông khí do tắc nghẽn đường thở [13]. Cận lâm sàng - X-quang phổi: Hình ảnh tổn thương là các nốt, đám hay bóng mờ tập trung hay lan toả.
Những hình ảnh thâm nhiễm, khí phế thũng, xẹp phổi cũng hay gặp.Đặc biệt X- quang có thể chẩn đoán được nguyên nhân của bệnh như dị vật đường thở bỏ quên có cản quang (tuy hiếm gặp) [14]. - Phương pháp chụp cắt lớp (Tomographie) hoặc chụp cắt lớp điện toán, chụp phế quản có cản quang, chụp hệ thống mạch máu phổi (Angiographic) v. có giá trị chẩn đoán nguyên nhân và mức độ tổn thương [3]. Xét nghiệm máu Công thức máu có tăng số lượng bạch cầu (> 10 Giga/lít), tăng ưu thế tế bào đa nhân trung tính.
Hoặc số lượng bạch cầu giảm (< 4,4 Giga/lít). Tốc độ máu lắng tăng. Dấu ấn viêm: tăng CRP, tăng procalcitonin 1. Nguyên nhân gây viêm phổi 1.
Nguyên nhân trực tiếp Cả vi rút và vi khuẩn đều có thể là nguyên nhân gây viêm phổi. Các nhóm vi khuẩn thường gặp là Streptococcus pneumoniae (pneumococcus) hoặc Haemophilu sinfluenzae, thường gặp type b (Hib) và ít gặp hơn là Staphylococcus aureus hoặc một số chủng streptococci. Ngoài ra, chỉ có 8 đến 12 chủng pneumococcus trong rất nhiều 8 chủng này là nguyên nhân hầu hết gây các ca bệnh viêm phổi nhiễm khuẩn, có sự khác biệt có thể khá lớn về chủng mắc bệnh giữa trẻ nhỏ và người lớn, các vị trí địa lý [3], [4]. Tác giả Vuori-Holopainen and Peltola's năm 2001 đưa ra kết luận Virus chiếm 80- 85% nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em Mỹ.
Trong 1 vài nghiên cứu chỉ ra S. pneumoniae và Haemophilu sinfluenzae tương ứng chiếm 13 đến 34% và 14 đến 42.0% các ca viêm phổi nhiễm khuẩn. Nhiều nghiên cứu trước đó của nhiều tác giả như: Adegbola và cộng sự chỉ ra Hib chiếm 5- 11% các ca viêm phổi [14]. Tại các nước phát triển, số lượng ca tử vong do viêm phổi do vi rút chiếm từ 1 - 7,3%, viêm phổi do vi khuẩn chiếm 10 - 14%, và tử vong do mắc đồng thời cả vi rút và vi khuẩn chiếm 16 – 18% [6].
- Vi khuẩn: tùy vào lứa tuổi khác nhau dễ bị nhiễm các loại vi khuẩn khác nhau, các loại vi khuẩn hay gặp như: phế cầu, liên cầu nhóm B, tụ cầu,. - Ký sinh trùng, nấm: thường gặp là nấm Candida albicans gây tưa miệng có thể gây viêm phế quản phổi [3], [4], [14]. - Không do vi sinh: hít, sặc thức ăn dịch vị dị vật dầu hôi hay các quá trình quá mẫn dị ứng do thuốc, chất phóng xạ…cũng có thể gây ra VP [3], [4]. Các yếu tố nguy cơ Nhóm người bệnh nhiễm covid nguy cơ cao bị viêm phổi hậu COVID 19 - Tuổi > 60 - Hút thuốc lá - Nhiều bệnh kèm: Đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành - Có bệnh hô hấp từ trước: hen, COPD, bệnh phổi kẽ.
- Cần oxy liệu pháp tại nhà 1. Chẩn đoán * Chẩn đoán xác định dựa vào: - Hội chứng nhiễm trùng. - Hội chứng đông đặc ở phổi điển hình hoặc không điển hình. - Hội chứng suy hô hấp cấp (có thể có).
- X quang phổi 9 * Chẩn đoán nguyên nhân dựa vào: - Diễn biến lâm sàng. - Yếu tố dịch tễ học. - Kết quả xét nghiệm đờm. - Đáp ứng điều trị.
* Chẩn đoán phân biệt: - Phế viêm lao: Bệnh cảnh kéo dài, hội chứng nhiễm trùng không rầm rộ, làm các xét nghiệm về lao để phân biệt. - Nhồi máu phổi: Cơ địa có bệnh tim mạch, nằm lâu, có cơn đau ngực đột ngột, dữ dội, khạc huyết nhiều, choáng.