Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm về căng thẳng và căng thẳng nghề nghiệp Khái niệm về căng thẳng: Walter Cannon là người đầu tiên đưa ra khái niệm về căng thẳng. Theo Cannon,căng thẳnglà phản ứng “cài đặt” sẵn của cơ thể trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó [2]. Hans Selye đã định nghĩa “Căng thẳnglà phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những căng thẳng” [2]. Như vậy, căng thẳng là phản ứng của cơ thể sống trước những tác động lên nó.
Các căng thẳng bình thường không gây hại, một số căng thẳng còn có tác động lợi: kích thích tính tích cực, huy động sức mạnh để còn người vượt qua khó khăn. Tuy nhiên những căng thẳng quá mức và kéo dài về thời gian mới có thể gây ra một chuỗi những ảnh hưởng xấu đến con người.Ferreri thuật ngữ căng thẳng được dung để chỉ một nguyên nhân của tác nhân công kích làm cho cơ thể khó chịu và cũng để chỉ hậu quả của những tác nhân gây kích thích mạnh [3].Folkman, căng thẳng là kết quả của sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực [20]. Một định nghĩa đơn giản về căng thẳng có thể được sử dụng là: căng thẳng xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường của bạn để ứng phó, theo S. Trong tâm lý học lâm sàng, căng thẳng được quan niệm là sang chấn tác động vào con người gây lên các chứng bệnh tâm căn có hại cho sức khỏe con người [5].
Trong tâm thần học, căng thẳng được xem là tất cả những sự việc, hoàn cảnh trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người với người tác động vào tâm thần gây lên những cảm xúc mạnh [6]. 4 Nguồn gốc của các yếu tố gây căng thẳng này có thể là các biến cố trong gia đình, nghề nghiệp và xã hội [8]. Khái niệm về căng thẳng nghề nghiệp: Năm 1978, Terry Barbee và John Newman đã đưa ra định nghĩa về CTNN, đó là sự tương tác giữa các điều kiện lao động với những nét đặc trưng của người lao động làm thay đổi các chức năng bình thường về tâm lý hoặc sinh lý hoặc cả hai [23]. Theo Viện Sức khỏe và An toàn Nghề nghiệp Quốc gia của Hoa Kỳ (NIOSH), CTNN có thể được định nghĩa là những đáp ứng có hại về mặt tâm lý và cơ thể xảy ra khi yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng, nhu cầu và nguồn lực của người lao động [24].
Một vài nghiên cứu cho rằng, CTNN bắt nguồn từ những đặc trưng của công việc mà tạo ra một mối đe dọa cho cá nhân người lao động. Mối đe dọa này có thể do những đòi hỏi quá mức của việc làm hoặc do những cung ứng không đầy đủ, thỏa mãn những yêu cầu từ phía người lao động trong một thời gian quá ngắn, thì sẽ nảy sinh tình trạng làm việc quá tải. Sự không thỏa mãn các nhu cầu có liên quan đến những gì người lao động hy vọng nhận được tại nơi làm việc, bao gồm: tiền lương thỏa đáng, được toại nguyện trong công việc, có cơ hội thăng tiến [8]. Như vậy, có thể thấy CTNN là vấn đề rất dễ xảy ra do nhiều yếu tố tác động đến.
Vì vậy chúng ta phải quan tâm đến vấn đề CTNN và ảnh hưởng của nó đối với người lao động để có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Căng thẳng nghề nghiệp trong nhân viên y tế: Căng thẳng của NVYT là trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người NVYT trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng như trong đời sống thường ngày. Trong đó, một phần là do sự tác động củ những điều kiện khó khăn, phức tạp từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân hoặc trong chính bản thân của mỗi người gây ra, một phần là do cách mà họ cảm nhận và giải thích sự tác động đó, tùy thuộc vào khả năng “xử lý” của bản thân có thể ảnh hưởng tới NVYT trên các mặt sinh lý, tâm lý và xã hội [9].2 Phương thức gây bệnh của căng thẳng Phương thức gây bệnh của căng thẳng rất đa dạng và phức tạp[10]: - Căng thẳng gây bệnh thường là những căng thẳng mạnh và cấp diễn hoặc không mạnh nhưng lặp lại nhiều lần. - Thành phần gây bệnh của căng thẳng là ý nghĩa thông tin chứ không phải cường độ của căng thẳng.
- Tính gây bệnh của căng thẳng còn tùy thuộc vào sự chuẩn bị của tâm thần và cơ thể trước một căng thẳng, căng thẳng càng bất ngờ thì càng dễ gây bệnh. - Những căng thẳng gây xung đột nội tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát cũng thường gây bệnh. - Căng thẳng tác động vào một cá nhân gây bệnh nhiều hơn khi tác động vào một tập thể.3 Các giai đoạn phản ứng của căng thẳng Theo Hans Selye, căn cứ vào khả năng thích ứng của cơ thể trước các tác nhân gây căng thẳng thì phản ứng của căng thẳng được chia làm 3 giai đoạn là giai đoạn báo động, giai đoạn thích nghi và giai đoạn kiệt quệ [11], [24]. - Giai đoạn báo động: là giai đoạn được biểu hiện bởi những biến đổi đặc trưng của cơ thể khi tiếp xúc với các yếu tố gây căng thẳng tạo nên những thay đổi về tâm lý và sinh lý.
Những thay đổi này giúp cơ thể đánh giá các tình huống gây căng thẳng và bước đầu tạo ra các đáp ứng của cơ thể trước các tình huống đó. Giai đoạn này có thể diễn ra rất nhanh hoặc kéo dài rất lâu, ở giai đoạn này cơ thể có thể chết do các yếu tố tác động quá mạnh vượt qua sự đáp ứng của cơ thể. Nếu cơ thể có thể tồn tại được thì các thay đổi bước đầu sẽ được chuyển sang giai đoạn ổn định. - Giai đoạn thích nghi: là mọi cơ chế đều được gia tăng để cơ thể chống đỡ, điều hòa các rối loạn ban đầu, lập lại trạng thái cân bằng nội môi và tạo ra sự cân bằng với môi trường.Trong một tình huống căng thẳng có thể đáp ứng bằng hai giai đoạn là giai đoạn báo động và giai đoạn thích nghi.
Nếu giai đoạn thích nghi tiến triển tốt thì các 6 chức năng tâm – sinh lý được hồi phục và ngược lại, nếu khả năng thích ứng của cơ thể mất dần thì cơ thể sẽ chuyển sang giai đoạn kiệt quệ. - Giai đoạn kiệt quệ: do các tình huống căng thẳng quá mức hoặc kéo dài làm cho cơ thể mất khả năng bù trừ, cơ thể trở nên suy sụp, khả năng thích nghi bị rồi loạn, xuất hiện các rối loạn tâm lý.4 Mức độ của căng thẳng Theo giáo sư Đặng Phương Kiệt phân chia mức độ căng thẳng [7], [8]: - Căng thẳng mức độ nhẹ: là mức độ mà chủ thể có thể cảm nhận như một thách thức làm tăng kích thích. - Căng thẳng mức độ vừa: là mức độ phá vỡ ứng xử có thể dẫn đến những hành động rập khuôn, lặp lại. - Căng thẳng mức độ nặng: là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra những phản ứng lêch lạc, dễ bối rối, giận dữ và trầm nhược.Selye có 2 mức độ: - Mức độ căng thẳng bình thường: là phản ứng thích nghi của cơ thể, đây là căng thẳng tích cực, huy động khả năng của cơ thể để có thể vượt qua các tác nhân của căng thẳng, lấy lại cân bằng của cơ thể.
- Mức độ căng thẳng bệnh lý: phản ứng thích nghi của cơ thể thất bại, con người không thể vượt qua được dẫn đến ốm đau, bệnh tật… 1.5 Nguyên nhân gây căng thẳng nghề nghiệp Tác giả Cooper CL nêu ra 6 nguyên nhân chính gây CTNN [25]. - Các điều kiện lao động: quá tải lao động ( lượng và chất), Hysteria dây chuyền, các quyết định của con người, làm việc theo ca, stress kỹ thuật. - Do vai trò lao động; vai trò (chức năng) công việc không rõ ràng, các rập khuôn và giới tính và vai trò giới tính, quấy nhiễu tình dục. - Các yếu tố giữa liên quan cá nhân với nhau: điều kiện lao động và các hệ nâng đỡ xã hội nghèo nàn, cạnh tranh, ghen tỵ hoặc mâu thuẫn về mặt chính trị, thiếu quan tâm người lao động.
7 - Phát triển nghề nghiệp: kém thúc đẩy nghề nghiệp, thúc đẩy quá sức, an toàn nghề nghiệp, các tham vọng bị hụt hẫng. - Cơ cấu tổ chức: cứng nhắc và không quan tâm tới nhu cầu cá nhân, đấu tranh chính trị, giám sát và huấn luyện không thỏa đáng, đưa ra quyết định không được chia sẻ. - Mối liên quan giữa gia đình và nghề nghiệp: các ảnh hưởng từ công việc tác động tới gia đình, thiếu nâng đỡ từ phía vợ/chồng, các mẫu thuẫn hôn nhân. Theo Viện Sức khỏe và An toàn Hoa Kỳ, các yếu tố là nguồn gốc của CTNN[24]: - Thiết kế công việc: khối lượng công việc quá nhiều, cường độ làm việc cao, thời gian làm việc kéo dài, thời gian nghỉ ngơi ngắn, công việc lặp lại, ít sử dụng kỹ năng của người lao động… - Cơ cấu quản lý: người lao động thiếu quyền quyết định trong công việc, ít có sự bàn bạc, giao tiếp với cấp trên… - Mối quan hệ cá nhân: thiếu sự hỗ trợ và nâng đỡ của đồng nghiệp, cấp trên, có những xung đột với cấp trên, đồng nghiệp.
- Những vấn đề liên quan đến công việc: công việc không có cơ hội thăng tiến, dễ sa thải, mất việc… - Môi trường làm việc: ồn ào, quá nóng, tiếp xúc hóa chất độc hại… 1.6 Những ảnh hưởng của căng thẳng nghề nghiệp Theo tác giả Đặng Phương Kiệt, CTNN có thể gây ra các rối loạn sau [12]: a) Những rối nhiễu tâm lý do CTNN - Lo lắng, căng thẳng, lú lẫn, dễ phát cáu - Các cảm giác hẫng hụt, tức giận và oán giận - Quá nhạy cmả trong cảm xúc và hiếu động - Nén lại các cảm nghĩ - Giảm hiệu quả trong giao tiếp - Co mình lại và trầm cảm - Cảm giác bị xa lánh và ghét bỏ 8 - Buồn chán và không toại nguyện trong nghề nghiệp - Mệt mỏi tinh thần và trí lực giảm sút. - Mất tập trung. - Mất tính tự chủ và tính sáng tạo - Giảm lòng tự trọng b) Những triệu chứng thực tổn - tăng nhịp tim và huyết áp - Tăng chế tiết adrenalin và noradrelanine - Bệnh đường tiêu hóa như loét dạ dày, tá tràng - Các chấn thương thân thể - Sự mệt mỏi thể xác - Bệnh tim mạch - Các chứng bệnh hô hấp - Vã mồ hôi - Các chứng bệnh ngoài da - Các chứng nhức đầu.