Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH THÂN CHUNG ĐỘNG MẠCH VÀNH TRÁI 1. Giải phẫu thân chung động mạch vành trái Thân chung chạy từ nguyên ủy ở động mạch chủ đến chỗ chia đôi thành động mạch liên thất trước và động mạch mũ. Đường kính trung bình đo trên chụp mạch là 4,5 ± 0,5mm ở nam, và 3,9 ± 0,4 mm ở nữ, mặc dù một số nghiên cứu tử thiết tim bình thường có ghi nhận đường kính đến 10mm.
Chiều dài của thân chung thì rất thay đổi: trong một nghiên cứu trên 160 trường hợp, chiều dài thay đổi từ 2 đến 40mm. Thân chung ngắn có liên quan đến van động mạch chủ hai lá [9]. Ít có tương quan giữa chiều dài thân chung và kích thước tim, hay chiều cao người bệnh. Thân chung được chia thành 3 phần: nguyên ủy của thân chung ngay phía trên xoang Valsalva trái, phần giữa (thân) và phần xa hay chỗ chia đôi.
Thành phần lỗ vào thân chung có nhiều cơ trơn và mô chun giãn hơn phần còn lại [10]. Chuyên gia can thiệp thường quan tâm đến giải phẫu của thân chung để tiếp cận điều trị can thiệp mạch vành. Trong khi phẫu thuật viên ít quan tâm đến giải phẫu thân chung. Giải phẫu thân chung được chuyên gia can thiệp đánh giá dựa vào tương quan với động mạch chủ lên, đường đi, chiều dài, và cấu trúc chia đôi.
Chưa có phân chia hệ thống nào cho giải phẫu của thân chung, tạm thời có 5 vấn đề được quan tâm gồm: góc xuất phát từ động mạch chủ, đường đi, cấu trúc chỗ chia đôi, chiều dài, và đường kính. Các góc chụp để đánh giá giải phẫu thân chung gồm trước sau, chếch chân trước sau, chếch trước trái 5 với nghiêng đầu và chếch đầu trước trái [10]. LCX carina: ngã ba động mạch mũ, Ostial LCX: lỗ vào động mạch mũ LAD carina: ngã ba động mạch liên thất trước, Ostial LAD: lỗ vào động mạch liên thất trước Proximal LM: đoạn gần thân chung, POC: đa giác dòng chảy Hình 1. Các đoạn thân chung động mạch vành trái trên IVUS Nguồn Kang S.
Bệnh thân chung động mạch vành trái 1. Tần suất Hẹp thân chung động mạch vành trái có ý nghĩa xuất hiện ở 6% bệnh nhân được chụp mạch vành qua da [12]. Bệnh xơ vữa của thân chung đơn độc thì hiếm gặp, thường có liên quan bệnh nhiều nhánh mạch vành [12], [13]. Chiều dài mạch máu là yếu tố giải phẫu thuận lợi cho khởi phát hẹp nặng ở nhánh xuất phát từ nó (thân càng 6 ngắn, phơi nhiễm xơ vữa đoạn xa càng nặng).
Các định nghĩa Tổn thương hẹp có ý nghĩa thân chung động mạch vành trái được định nghĩa là hẹp > 50% đường kính của tổn thương thân chung. Bệnh thân chung trung gian: được định nghĩa khi độ nặng thân chung khó đánh giá bởi chụp mạch nhưng có hẹp khoảng 30 - 50%. Những bệnh nhân này cần thêm kết quả kiểm tra của FFR hay IVUS để hướng dẫn điều trị [14]. Bệnh tương đương thân chung được định nghĩa là hẹp nặng (≥70%) đoạn gần động mạch liên thất trước và động mạch mũ, có tiên lượng tương tự như bệnh thân chung thật sự [15].
Bệnh thân chung động mạch vành trái không bảo vệ - Bệnh thân chung động mạch vành trái bảo vệ Bệnh thân chung động mạch vành trái được bảo vệ: bệnh nhân đã được phẫu thuật bắc cầu chủ vành vào nhánh mũ hay nhánh liên thất trước, trước khi bệnh nhân được can thiệp đặt stent thân chung [16]. Bệnh thân chung động mạch vành trái không được bảo vệ: bệnh nhân chưa được phẫu thuật hay không có cầu nối vào nhánh mũ hay liên thất trước. Phân loại và nguyên nhân Phân loại theo vị trí tổn thương: có vai trò trong gợi ý chiến lược điều trị [10]. Tổn thương lỗ vào thân chung Tổn thương lỗ vào thân chung là một thách thức cho kỹ thuật can thiệp.
Cần chú ý những vấn đề sau: • Lỗ vào thân chung cấu tạo chủ yếu bởi sợi chun giãn. Do đó nguy cơ 7 co thắt cao. • Liên quan đến đoạn đầu của ống thông can thiệp đặc biệt ở người lớn tuổi có xơ vữa động mạch chủ và tăng huyết áp, tăng nguy cơ stent không đúng vị trí. • Góc xuất phát của thân chung từ động mạch chủ.
• Kích thước của thân chung có thể lớn và do đó cần stent có đường kính lớn hơn bình thường được dùng trong động mạch vành. 1) Tổn thương thân 2) Tổn thương đoạn xa Tổn thương đoạn xa cần phải xem xét liên quan đến nhánh bên. Có nhiều phân loại nhánh bên, thường dùng phân loại Medina [17]. Nó chia chỗ chia đôi thành ba đoạn: nhánh chính (MB: main branch), đoạn gần, đoạn xa và nhánh bên (SB: side branch).
Phân loại Medina Nguồn: Medina A. 8 Nguyên nhân bệnh thân chung động mạch vành trái [18] Tắc nghẽn Xơ vữa động mạch: mảng xơ vữa động mạch, huyết khối trên mảng xơ vữa không ổn định. Bóc tách động mạch vành: tự nhiên, do thầy thuốc. Bóc tách động mạch chủ type A.
Viêm động mạch. Viêm động mạch giang mai. Viêm động mạch Takayasu. Bệnh van động mạch chủ bao gồm van cơ học lệch vị trí.
Co thắt mạch. Do thầy thuốc: can thiệp, tổn thương trực tiếp trong phẫu thuật. Chèn ép bên ngoài: phình động mạch chủ, u. Không tắc nghẽn Phình mạch lan toả.
Phình mạch xơ vữa động mạch. Chẩn đoán bệnh thân chung động mạch vành trái 1. Lâm sàng bệnh thân chung động mạch vành trái Bệnh thân chung động mạch vành có biểu hiện tương tự như các bệnh động mạch vành khác, có thể gặp trong cả hội chứng động mạch vành cấp và mạn. Các triệu chứng thường gặp gồm: đau ngực điển hình hoặc không điển hình, tiền sử có yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch (tuổi, giới, hút thuốc lá, béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid máu, đái tháo đường), nhồi máu cơ tim trước đó, bệnh mạch máu khác (động mạch cảnh, động mạch chi) [19], [20].
Tần suất xơ vữa động mạch thân chung có ý nghĩa khi chụp mạch vành ở 9 nam trên 65 tuổi với đau ngực CCS II là 11%, đau ngực CCS III là 13%, và CCS IV là 9%. Đối với nữ các chỉ số này lần lượt là 0%, 7% và 12% [22]. Shah phân tích tổng hợp 13.625 chụp mạch vành có 1422 (10,4%) bệnh thân chung được phát hiện. Trong đó có 953 ca (6,99%) có bệnh thân chung không tắc nghẽn, 468 ca (3,43%) có tắc nghẽn.
Tiền sử bệnh mạch vành phát hiện ở 30,98% ca. Đau thắt ngực không ổn định thấy ở 71,79% ca. Trên điện tim, ST chênh lên (> 0,05 mV) ở chuyển đạo aVR hiện diện 83,97% ca [23]. Thăm dò hình ảnh, chức năng bệnh thân chung động mạch vành trái Thăm dò chức năng bằng phân suất lưu lượng dự trữ (FFR) mạch vành.
Đó là tỷ số giữa lưu lượng lúc giãn mạch tối đa qua động vành bị hẹp với lưu lượng tối đa lý thuyết. FFR có tương quan với áp lực tưới máu cơ tim đoạn xa của mạch vành khi giãn tối đa (sử dụng adenosin hoặc papaverin) [24]. Trong đánh giá hẹp thân chung, FFR cần đánh giá ở cả hai nhánh LAD, LCx. Thăm dò hình ảnh: chủ yếu gồm chụp mạch vành, siêu âm nội mạch, cắt lớp quang học.
Chụp động mạch vành là phương pháp chính để đánh giá hẹp động mạch vành. Trong khi đánh giá tổn thương nặng dễ dàng, phân tích tổn thương trung gian thường khó khăn và khác nhau giữa từng người đọc. Do đặc điểm giải phẫu thân chung ĐMV trái ngắn và cong làm tiếp cận chụp mạch khó khăn. Ngoài ra tổn thương lỗ vào thân chung thường nặng hơn thực sự do xảo ảnh của catheter, và độ nặng vị trí chia đôi cũng khó diễn giải chính xác.
Do đó chỉ chụp mạch vành khó xác định chính xác phân bố mảng xơ vữa ở vị trí chia đôi trong bệnh thân chung không bảo vệ đoạn xa [25], [26]. Do chụp mạch vành chỉ cho hình ảnh lòng mạch, nên hạn chế đánh giá tổn thương giải phẫu và huyết động. Nên, siêu âm nội mạch thường dùng để đánh giá mức độ hẹp của thân chung. Chi tiết về siêu âm nội mạch sẽ bàn 10 bên dưới.
Chụp cắt lớp quang học (OCT: Optical coherence tomography) dựa trên ghi nhận sóng dội (phản chiếu) của ánh sáng (bước sóng trong khoảng 1300 nm) để quan sát hình ảnh cắt ngang của mô. OCT cho hình ảnh độ phân giải cao hơn 10 lần IVUS, cho phép hình ảnh mạch vành chi tiết hơn và cung cấp cái nhìn bên trong sinh lý bệnh mạch vành [27], [28]. Chụp cắt lớp vi tính đa dãy động mạch được thực hiện bằng cách tiêm thuốc cản quang chứa iod vào tĩnh mạch ngoại biên. Khi nồng độ thuốc cản quang trong động mạch chủ đạt đến mức độ nhất định, máy sẽ quét và hình ảnh được ghi nhận.
Các hình được phân tích bằng phần mềm máy tính, cho phép tái tạo hình ảnh 2D và dựng hình 3D của động mạch vành, các buồng tim, cũng như cho biết các thông số thể tích. Chụp cắt lớp mạch vành (CCTA) được chứng minh có hiệu quả đánh giá bệnh thân chung tương đương với chụp động mạch vành và IVUS, với độ nhạy và độ đặc hiệu 100% trong cả hai trường hợp [29]. CCTA cũng dùng để đánh giá theo dõi điều trị đặt stent thân chung. Ngoài ra còn có phân tích hình ảnh mạch vành 3D, chụp cộng hưởng từ.
So sánh những tiếp cận xâm lấn Khả năng Chụp mạch IVUS VH OCT FFR Phân tích định tính ++ +++ + + Đánh giá chức năng - - _ - +++ Xác định thành phần mảng xơ vữa + +++ +++ ++ - Xác định dạng thành mạch - +++ +++ + - Xác định huyết khối nguy cơ +/- + + +++ - 11 Đánh giá kết quả đặt stent +/- ++ + +++ - Đánh giá bệnh lỗ vào thân chung +/- + + - - Nguồn: Raber L. Điều trị bệnh thân chung động mạch vành trái 1. Thang điểm nguy cơ cho lựa chọn chiến lược điều trị bệnh thân chung Có nhiều thang điểm dựa trên đặc điểm chụp mạch hay lâm sàng để đánh giá tiên lượng của bệnh nhân bệnh thân chung được phẫu thuật bắc cầu. Hướng dẫn ACC/AHA gợi ý việc tính thang điểm SYNTAX và STS có lý ở bệnh nhân bệnh thân chung không bảo vệ và bệnh mạch vành phức tạp (mức khuyến cáo IIa, mức chứng cứ B).
SYNTAX là một nghiên cứu lớn so sánh kết cục của PCI với CABG ở bệnh nhân bệnh 3 nhánh mạch vành và bệnh thân chung. Điểm càng cao, tổn thương càng phức tạp và lan rộng. Nghiên cứu SYNTAX chia 3 nhóm điểm, ghi nhận nhóm thấp nhất (0 - 22) có kết cục PCI cũng tốt như CABG, nhóm cao nhất (≥ 33) phẫu thuật tốt hơn rõ rệt.