chương 1 đã giới thiệu mục tiêu, tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Tuy vấn đề đặt ra không mới nhưng trong mỗi thời điểm, mỗi không gian sẽ có những nhân tố mới xuất hiện để chi nhánh có thể khai thác triệt để, áp dụng linh hoạt các biện pháp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến gửi tiền. Trước khi tiến hành khảo sát, phân tích vấn đề, Tác giả cần phải hiểu rõ những cơ sở lý thuyết khoa học, những lý luận và những nghiên cứu trước đây nhằm so sánh và phát hiện những điểm mới trong vấn đề cần nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về tiền gửi tiết kiệm.
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân gửi vào ngân hàng , ngân hàng tạm thời quản lý, sử dụng và có trách nhiệm hoàn trả lại cho người gửi. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một NHTM nào vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau. ( Nguyễn Đăng Dờn, 2013) Theo Trầm Thị Xuân Hương (2012), các khái niệm về hoạt động gửi tiền tiết kiệm gồm: Người gửi tiền: là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm.
Chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: là người đứng tên trên sổ tiết kiệm hoặc thẻ tiết kiệm. Đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm: là hai cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm. Giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm: là giao dịch gửi, rút tiền gửi tiết kiệm và các giao dịch khác liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. 6 Sổ tiết kiệm: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm về khoản tiền đã gửi tại ngân hàng.
Kỳ hạn gửi tiền: là khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửi tiền vào ngân hàng đến ngày ngân hàng cam kết trả hết tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm do ngân hàng quy định cho từng hình thức tiền gửi tiết kiệm phù hợp với lãi suất thị trường, lãi suất sẽ được điều chỉnh theo biến động trên thị trường. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được tính theo ngày. Phân loại tiền gửi tiết kiệm.
Theo Trầm Thị Xuân Hương (2012), theo thời gian gửi, tiền gửi tiết kiệm được phân loại thành tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn, trung, dài hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền được rút tiền ra bất kỳ lúc nào, rút một phần hay toàn phần bằng tiền mặt hay thanh toán chuyển khoản. Đối tượng huy động chủ yếu là cá nhân có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng. Khi gửi tiền vào, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Mỗi lần giao dịch khách hàng phải mang sổ tiết kiệm. Sổ tiết kiệm này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, tiền lãi được hưởng và số dư hiện có. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định. Ngân hàng có thể huy động dưới hình thức sổ tiết kiệm hay chứng chỉ tiền gửi, nhằm huy động những khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân gửi vào với mục đích nhận lãi và đảm bảo an toàn tài sản.
Khi gửi tiền vào khách hàng sẽ được ngân hàng cấp cho một sổ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Mỗi một món tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được ngân hàng theo dõi thẻ lưu chi tiết vì mỗi món tiền có ngày đáo hạn khác nhau, lãi suất khác nhau. Tiền gửi tiết kiệm thường là tiền tạm thời nhàn rỗi trong một thời gian nhất định, do đó loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM và mang tính ổn định hơn tiền gửi thanh toán. Vì vậy, với hình thức tiền gửi tiết 7 kiệm có kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn để cho vay ngắn, trung, dài hạn.
Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm có thời gian cụ thể: khi đến gửi tiền tiết kiệm, người gửi tiền sẽ lựa chọn kỳ hạn mà mình muốn gửi. Ngày cuối của mỗi kỳ hạn được gọi là ngày đến hạn, người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận lại được một khoản tiền gốc và lãi sau khi đã gửi cho ngân hàng một thời gian vào ngày này. Ngoài ra, người gửi tiền vẫn có thể chọn hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có thể rút tiền bất cứ lúc nào theo nhu cầu sử dụng.
Người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận được lãi suất. Lãi suất là khoản tiền lời của người gửi tiết kiệm khi gửi tiền, bao gồm hai loại đó là lãi suất có kỳ hạn và lãi suất không kỳ hạn. Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sẽ cao hơn lãi suất tiền gửi không có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm của người gửi được kiểm soát qua sổ tiết kiệm và thẻ tiết kiệm, là những vật dụng của các NHTM nhằm quản lý số tiền, lãi suất và kỳ hạn gửi tiết kiệm của người gửi tiền.
Tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định, an toàn. Người gửi tiền biết trước khoản tiền lãi mình sẽ được nhận sau khi gửi tiết kiệm, tiền gửi tiết kiệm được giữ an toàn trong ngân hàng và khi có nhu cầu gấp, có thể rút các khoản tiền gửi ra sử dụng và chỉ mất lãi suất được hưởng của kỳ hạn gửi đó. Theo các quy định của NHNN tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền phải dự trữ bắt buộc và phải được mua bảo hiểm tiền tiền gửi. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm.
Đối với NHTM: Nguồn vốn mà các NHTM huy động được từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn, góp phần cung cấp vốn cho các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM như cho vay, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán trong nước và quốc tế…tạo ra lợi nhuận cho NHTM. Đối với khách hàng: Người gửi đến gửi tiền tiết kiệm tại các NHTM nhận được lợi nhuận từ hưởng lãi, đảm bảo an toàn và tính thanh khoản cao cho tài sản 8 của bản thân. Khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khác của NHTM thì có thể tiếp cận dễ dàng hơn các đối tượng khách hàng khác. Đối với nền kinh tế: NHTM huy động được các khoản tiền gửi tiết kiệm nhàn rỗi, nhỏ lẻ trong nền kinh tế tạo thành nguồn vốn lớn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sử dụng vốn khác nhau của nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ngoài ra, thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc của nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng trung ương có thể điều hành hiêu quả các chính sách. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại Để có được nhận định chính xác và toàn diện về huy động vốn của một NHTM, điều không thể thiếu là đưa ra những tiêu chí đánh giá hoạt động này. Khi xem xét hiệu quả huy động vốn, chúng ta có thể đánh giá dựa trên các chỉ tiêu chính sau: Quy mô nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động. Cơ cấu vốn huy động.
Chi phí huy động vốn. Sự phù hợp giữa mục đích huy động vốn với yêu cầu sử dụng vốn. Quy mô nguồn vốn và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động Vấn đề đầu tiên được quan tâm đến khi xem xét khả năng huy động vốn của một NHTM chính là quy mô vốn Ngân hàng đó huy động được. Bên cạnh việc đánh giá quy mô tổng vốn của Ngân hàng, sự xem xét chi tiết quy mô từng loại vốn, VCSH và vốn nợ, cũng rất cần thiết.
Các khoản mục được tính đến khi xác định quy mô VCSH bao gồm: Vốn cổ phần (vốn được cấp, vốn góp). Lợi nhuận giữ lại. Các quỹ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng rủi ro, các quỹ khác. Tỷ lệ nhất định cổ phần ưu đãi có thời hạn và giấy nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu; 9 Quy mô VCSH là một trong những tiêu chí quan trọng để một NHTM được xếp loại là Ngân hàng quy mô lớn, trung bình hay nhỏ.
Quy mô VCSH được dùng để so sánh giữa các Ngân hàng khác nhau hoặc của một Ngân hàng trong những thời điểm khác nhau. Khi xét về quy mô, vốn nợ của NHTM thường được xác định gồm tiền gửi, tiền vay và vốn nợ khác. Trong đó, vốn nợ khác là vốn nhận uỷ thác, tiền trong thanh toán và các khoản phải trả, phải nộp. Các khoản tiền gửi bao gồm: Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp; Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức; Tiền gửi tiết kiệm của dân cư (không kỳ hạn và có kỳ hạn); Tiền gửi của các Tổ chức tín dụng; Để xác định quy mô tiền vay, các khoản mục được sử dụng gồm: Công cụ nợ: kỳ phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác, giấy tờ có giá dài hạn; Các khoản vay NHTW và vay các Tổ chức tín dụng; Quy mô vốn là một chỉ số tuyệt đối và nếu chỉ được dùng đơn lẻ, nó không phản ánh được đầy đủ khả năng huy động vốn của một Ngân hàng.
Dựa vào chỉ tiêu quy mô vốn, nhiều chỉ số tương đối được xác định. Các chỉ tiêu này cho thấy một cách đầy đủ hơn khả năng huy động vốn của NHTM. Nếu quy mô vốn cho biết độ lớn của lượng vốn Ngân hàng huy động được thì tốc độ tăng trưởng phản ánh sự tăng (giảm) của vốn tại các thời điểm khác nhau cũng như sự tăng (giảm) đó là nhiều hay ít. Tổng nguồn vốn năm i Tốc độ tăng x 100 trưởng vốn năm i Tổng nguồn vốn năm i - 1 Tốc độ tăng trưởng > 100: quy mô vốn của Ngân hàng tăng.
Tốc độ tăng trưởng < 100: quy mô vốn của Ngân hàng giảm. 10 Vốn của Ngân hàng gia tăng với những tỷ lệ xấp xỉ nhau trong nhiều năm thể hiện một sự tăng trưởng vốn ổn định. Điều đó, một mặt, giúp Ngân hàng thuận lợi hơn trong việc dự kiến lượng vốn huy động được để có kế hoạch điều hoà vốn, tạo được sự phù hợp giữa phương án mở rộng huy động vốn với mở rộng tín dụng.