Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng tại Thái Nguyên Chương 4: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử cho các doanh nghiệp tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG HÀNH VI MUA SẮM TRỰC TUYẾN CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG 1. Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hƣởng tới hành vi mua sắm trực tuyến của ngƣời tiêu dùng 1. Tổng quan về mua sắm trực tuyến 1. Khái niệm Thương mại điện tử Hiện nay có nhiều khái niệm về thương mại điện tử, trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm theo Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ban hành ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thương mại điện tử như sau: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.
Ở đây, giao dịch thương mại cần hiểu theo nghĩa rộng được đưa ra trong Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL, 1996): “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch nào về thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”. Về bản chất, TMĐT là phương thức để tiến hành hoạt động kinh doanh - thương mại, các chủ thể tham gia TMĐT phải tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh, thương mại, cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và những quy định có liên quan khác. Do đó, TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống.
Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doanh. TMĐT càng được biết tới như một phương thức kinh doanh hiệu quả từ khi Internet hình thành và phát triển. Chính vì vậy, nhiều người hiểu TMĐT theo nghĩa cụ thể hơn là giao dịch thương mại, mua sắm qua Internet và mạng (VD: mạng Intranet của doanh nghiệp). Khái niệm mua sắm trực tuyến Hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa về mua sắm trực tuyến của các tác giả khác nhau, cụ thể như: - Theo nghiên cứu của Liang và Lai (2000), hành vi mua sắm trực tuyến (còn được gọi là hành vi mua hàng qua mạng, hành vi mua sắm qua Internet) là quá trình mua sản phẩm dịch vụ qua Internet.com: mua sắm trực tuyến là hoạt động mua sắm sản phẩm hay dịch vụ qua mạng Internet.
- Theo định nghĩa trong nghiên cứu của Monsuwe et al. (2004) thì mua sắm trực tuyến là hành vi của người tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng Internet hoặc website sử dụng các giao dịch mua sắm trực tuyến. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 - Theo nghiên cứu của Haubl and Trifts (2000) thì mua sắm trực tuyến là một giao dịch được thực hiện bởi người tiêu dùng thông qua giao diện dựa trên máy tính bằng cách: máy tính được kết nối và có thể tương tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ thông qua mạng máy tính. Trong luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa theo nghiên cứu của Liang và Lai (2000), do đó luận văn chỉ chú trọng nghiên cứu hành vi của những người tiêu dùng có sử dụng Internet.
Sản phẩm khi mua hàng qua mạng Về nguyên tắc, những gì bán được ở các cửa hàng truyền thống thì có thể bán được qua các kênh mua hàng qua mạng. Tuy nhiên, phụ thuộc vào nhiều điều kiện (hạ tầng, công nghệ thông tin, hạ tầng sản xuất, phân phối, vận tải), mức độ phù hợp của các loại hàng hóa đối với mua hàng qua mạng không phải như nhau. Những sản phẩm có đặc tính như sau sẽ có nhiều lợi thế khi bán trực tuyến: - Sản phẩm liên quan đến vi tính. - Sản phẩm không cần thử trước khi mua - Sản phẩm dễ hiểu, họ có thể hiểu được và tin tưởng được, chấp nhận được nó không quá phức tạp - Sản phẩm dễ chuyên chở đến khách hàng, sản phẩm số hóa - Sản phẩm chuẩn hóa, theo tiêu chuẩn của thế giới, của ngành - Sản phẩm phải có tính sáng tạo - Sản phẩm phù hợp với những thị trường chuyên biệt, thị trường này là thị trường sản phẩm rất khác biệt, cá biệt theo nhu cầu riêng của một nhóm khách hàng, rất ít người mua nhưng mà họ phải mua.
Thị trường quy mô tuy nhỏ nhưng ít đối thủ cạnh tranh - Sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng, hay sản phẩm được các hãng uy tín, nổi tiếng đứng ra bảo lãnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Thanh toán trong mua sắm trực tuyến Các phương thức thanh toán tùy thuộc vào hệ thống thanh toán của người bán, có thể sử dụng những phương thức như sau: - Thanh toán qua thẻ ATM có đăng kí dịch vụ Internet Banking (BIDV Online, Vietcombank IB@nking,.) - Thanh toán qua thẻ tín dụng (Visa, Master Card,.) - Chuyển khoản qua ngân hàng (BIDV, Vietcombank) - Chuyển tiền mặt qua bên thứ 3 (bưu điện, dịch vụ chuyển tiền của Viettel,.) - Thanh toán qua cổng thanh toán trung gian (Ngân Lượng, Bảo Kim,.) - Thanh toán qua điện thoại di động và điện thoại cố định - Nhân viên của doanh nghiệp giao hàng thu tiền tận nơi - Bưu điện giao hàng thu tiền hộ (COD - Cash on delivery) - Các loại tiền điện tử (Bitcoin, Onecoin), ví điện tử (Payoo), séc điện tử, hối phiếu điện tử,. - Thẻ lưu giữ giá trị: + Thẻ khuyến mại Voucher: là phiếu chứng nhận giảm giá được sử dụng để thanh toán cho một số sản phẩm, dịch vụ được chỉ định riêng với hạn mức thanh toán nhất định + Thẻ giảm giá Coupon: là phiếu giảm giá được ghi rõ giá khuyến mãi trên phiếu, người mua nếu xuất trình coupon sẽ được giảm giá hoặc hưởng những ưu đãi đặc biệt được ghi trên coupon + Thẻ điện thoại: thẻ dùng để thanh toán cước phí mạng viễn thông, hiện có một số hệ thống người bán chấp nhận thanh toán bằng thẻ này (Bảo Kim) + Một số loại thẻ khác: Thẻ nạp tài khoản game (Vcoin, Zing Xu, FPT Gate),.
Giao hàng trong mua sắm trực tuyến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 10 Sau khi thanh toán đã được chấp nhận hàng hoá, dịch vụ có thể được giao trong những cách sau đây: - Tải về: Đây là phương pháp thường được sử dụng cho các sản phẩm số như phần mềm, nhạc, phim, hình ảnh, tài liệu số,. - Vận chuyển: Sản phẩm được vận chuyển đến địa chỉ của khách hàng hoặc của một bên thứ ba khách hàng được chỉ định thông qua nhà vận chuyển. Nhà vận chuyển có thể là bưu điện, các đơn vị chuyển phát nhanh (Viettel, Tín Thành, Hợp Nhất,.) qua đường bộ, đường thủy, đường hàng không,. - Nhận hàng ở cửa hàng gần nhất: người tiêu dùng sẽ đặt hàng qua mạng nhưng sẽ nhận hàng hóa ở cửa hàng gần nhất trong hệ thống phân phối, bỏ qua vị trí địa lý của nhà bán lẻ để tiết kiệm thời gian, tiền bạc, và không gian.
- Cung cấp một mã số được in ra hoặc gửi email (ví dụ: mã giảm giá, vé máy bay,. Các vé, mã số, hoặc phiếu giảm giá có thể được mua lại tại các cửa hàng vật lý hoặc trực tuyến và được xác minh. - Giao hàng tận nơi (Shipping): Sản phẩm được gởi trực tiếp đến địa chỉ khách hàng, thường áp dụng đối với các khu vực gần nhà phân phối 1. Lợi ích của mua sắm trực tuyến a.
Lợi ích đối với doanh nghiệp - Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với bán hàng truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận nhà cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiều sản phẩm hơn. - Cải thiện hệ thống phân phối: giảm lượng hàng lưu kho và độ chậm trễ trong phân phối hàng. Hệ thống của hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các cửa hàng trên mạng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 11 - Vượt giới hạn về thời gian: việc tự động hóa các giao dịch thông qua Website và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện bất kỳ lúc nào mà không cần thêm nhiều chi phí biến đổi. - Tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: với lợi thế thông tin và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường. - Giảm chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất có thể được giảm bớt trước hết là chi phí văn phòng, một yếu tố cấu thành trong chi phí sản phẩm. Cụ thể là chi phí in ấn hầu như được loại bỏ, chi phí cho việc tìm kiếm và chuyển giao tài liệu được giảm bớt bởi tài liệu được lưu trữ và chuyển giao trên máy tính cho phép tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức.
Do vậy, nhân viên văn phòng được giảm thiểu giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí tiền lương. - Giảm chi phí giao dịch: nhờ có internet mà người tiêu dùng và doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là quá trình từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao hàng, thanh toán).