Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông nhiều năm qua bộc lộ sự suy giảm rõ rệt về hứng thú học tập của người học. Báo cáo khảo sát của Viện Khoa học Giáo dục năm 2007 trên 4.000 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông toàn quốc cho thấy có tới 47,6% học sinh không có hứng thú với môn Ngữ văn, 40,6% cảm thấy bình thường và chỉ có 13,8% học sinh thực sự yêu thích môn học. Một trong những căn nguyên sâu xa dẫn đến tình trạng này bắt nguồn từ phương pháp đặt câu hỏi thụ động của giáo viên; khoảng 70% câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa và giáo án hiện hành còn mang tính chung chung, nặng về tái hiện sự kiện và ghi nhớ máy móc.

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản phương pháp dạy học theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Điều 28 Luật Giáo dục năm 2005, việc chuyển dịch từ mô hình truyền thụ một chiều sang phát huy tính chủ động của người học là nhiệm vụ cấp thiết. Đề tài tập trung nghiên cứu cơ chế chuyển hóa kiến thức tác phẩm thành hệ thống câu hỏi có tính định hướng hoạt động, lấy bài thơ "Vội vàng" của thi sĩ Xuân Diệu trong chương trình Ngữ văn lớp 11 làm ngữ liệu thể nghiệm trọng tâm. Phạm vi nghiên cứu được triển khai khảo sát thực tế và thể nghiệm sư phạm tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng trong năm học 2009 - 2010.

Ý nghĩa cốt lõi của nghiên cứu là thiết lập một quy trình sư phạm hoàn chỉnh gồm 4 chặng chiếm lĩnh văn bản nghệ thuật. Mục tiêu đề ra là gia tăng tỷ lệ học sinh tham gia xây dựng bài học chủ động lên trên 65%, đồng thời kéo giảm tỷ lệ câu hỏi tái hiện đơn thuần xuống dưới mức 25%, tạo tiền đề vững chắc cho việc nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ độc lập của học sinh phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của 3 khung lý thuyết giáo dục và tiếp nhận văn học hiện đại. Thứ nhất là Thuyết tiếp nhận văn học của các nhà nghiên cứu mỹ học tiếp nhận, được phát triển và vận dụng sáng tạo trong phương pháp luận dạy học văn của Giáo sư Phan Trọng Luận và Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng. Lý thuyết này khẳng định bạn đọc học sinh chính là chủ thể đồng sáng tạo, có nhiệm vụ giải mã các tầng hàm ngôn và lấp đầy các khoảng trống nghệ thuật của văn bản. Thứ hai là Thang đo tư duy 6 cấp độ của Benjamin Bloom công bố năm 1956, bao gồm: Biết, Hiểu, Áp dụng, Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá; trong đó luận văn tập trung phát triển các dạng câu hỏi từ cấp độ 3 đến cấp độ 6 để giải phóng năng lực tư duy phản biện. Thứ ba là Quan điểm dạy học nêu vấn đề dựa trên nguyên lý tâm lý học của Rubinstein: tư duy chỉ thực sự xuất hiện khi cá nhân đối mặt với tình huống có vấn đề hoặc mâu thuẫn nhận thức.

Hệ thống khái niệm công cụ bao gồm 4 thuật ngữ chính yếu: "Tích cực hóa" (tập hợp các tác động sư phạm nhằm chuyển đổi vị thế người học từ thụ động sang chủ động), "Chiếm lĩnh tác phẩm văn chương" (quá trình nội tâm hóa các giá trị nội dung tư tưởng và hình thức biểu đạt), "Câu hỏi tích cực hóa" (công cụ kích hoạt tư duy liên tưởng, tranh luận và tự bộc lộ cảm xúc) và "Tầm đón nhận thẩm mỹ" (vốn trải nghiệm văn hóa và tâm lý sẵn có của người tiếp nhận).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra bảng hỏi thực tế trên cỡ mẫu 300 học sinh lớp 11 (mỗi trường 100 học sinh) tại 3 trường: Trung học phổ thông Vĩnh Bảo, Trung học phổ thông Nguyễn Khuyến và Trung học phổ thông Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cho cả khối trường chuẩn quốc gia lẫn các trường thuộc địa bàn nông thôn.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp và phân tích hệ thống từ 45 công trình chuyên khảo, giáo trình phương pháp và bài báo khoa học đầu ngành. Phương pháp phân tích văn bản thi pháp học kết hợp với thống kê mô tả được áp dụng để lượng hóa các mức độ nhận thức của học sinh. Timeline nghiên cứu được tiến hành trong thời gian 8 tháng, từ khâu khảo sát thực trạng đầu năm học, thiết kế giáo án thể nghiệm bài thơ "Vội vàng", tiến hành dạy thực nghiệm đối chứng trên 2 lớp học song song đến khâu đánh giá định lượng kết quả đầu ra.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng ban đầu trên 300 học sinh lớp 11 tại 3 trường trung học phổ thông đã chỉ ra những tồn tại nghiêm trọng trong phương pháp đặt câu hỏi của giáo viên:

  • Khoảng 40% học sinh khẳng định câu hỏi của giáo viên trong giờ dạy tác phẩm văn chương chưa có tác dụng thúc đẩy sự làm việc chủ động, tích cực và sáng tạo.
  • Tỷ lệ học sinh nhận định hệ thống câu hỏi chỉ đơn thuần tập trung khai thác nội dung bề mặt của văn bản chiếm 34%, trong khi 24% học sinh đánh giá câu hỏi thiếu tính hấp dẫn, không khơi gợi được cảm xúc thẩm mỹ.
  • Khoảng 2% học sinh thường xuyên không hiểu rõ yêu cầu hoặc mục đích của lệnh hỏi do cách diễn đạt phức tạp, thiếu tính sư phạm.

Trong quá trình thể nghiệm bài thơ "Vội vàng" với hệ thống câu hỏi tích cực hóa theo 4 chặng (Tiếp cận - Phân tích - Cắt nghĩa - Bình giá), kết quả thu được có sự bứt phá vượt trội so với lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống:

  • Tỷ lệ học sinh chủ động giơ tay phát biểu và tham gia tranh luận nhóm tại lớp thực nghiệm đạt 78,5%, cao hơn gấp 2,3 lần so với mức 34,1% ở lớp đối chứng.
  • Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi trong bài kiểm tra năng lực cảm thụ và bình giá văn học sau giờ dạy đạt 76,2% ở nhóm thực nghiệm, trong khi nhóm đối chứng chỉ đạt 38,5% (chênh lệch 37,7%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự chênh lệch trên nằm ở việc giáo viên truyền thống thường lạm dụng câu hỏi đóng, mang tính chất tái hiện chi tiết và áp đặt kết luận cảm thụ có sẵn. Khi giáo viên thay thế cách dạy này bằng hệ thống 8 dạng câu hỏi tích cực hóa (câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi sáng tạo, câu hỏi tự bộc lộ cảm xúc, câu hỏi tranh luận, câu hỏi phát hiện, câu hỏi lựa chọn, câu hỏi liên tưởng - tưởng tượng và câu hỏi đọc hiểu), học sinh được đặt vào vị thế một bạn đọc nghiên cứu độc lập. Kết quả này tương đồng với các kết luận của Tiến sĩ Nguyễn Viết Chữ và Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Năm về vai trò của việc chuyển hóa kiến thức thành chuỗi thao tác hành động.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ phản hồi tích cực giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, cùng bảng ma trận phân phối 8 nhóm câu hỏi tương ứng với 4 giai đoạn chiếm lĩnh thi phẩm "Vội vàng". Sự chuyển hóa này chứng minh rằng khi người học được trao quyền đối thoại bình đẳng và bộc lộ rung động cá nhân trước nghịch lý thời gian hay vẻ đẹp trần thế trong thơ Xuân Diệu, hiệu quả tiếp nhận văn chương sẽ tăng trưởng bền vững theo cấp số nhân.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thể nghiệm thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trung học phổ thông:

  1. Tái cấu trúc hệ thống câu hỏi trong kế hoạch bài dạy: Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần chủ động cắt giảm tỷ lệ câu hỏi tái hiện xuống dưới mức 20%, đồng thời nâng tỷ lệ các câu hỏi phân tích, cắt nghĩa và bình giá lên tối thiểu 60% tổng số câu hỏi trong mỗi giáo án. Thời gian hoàn thành việc điều chỉnh cấu trúc bài soạn thực hiện ngay trong học kỳ I của năm học với mục tiêu áp dụng đồng bộ cho 100% tiết đọc hiểu văn bản.
  2. Chuẩn hóa quy trình 4 bước chiếm lĩnh tác phẩm: Tổ chuyên môn tại các trường trung học phổ thông cần bắt buộc áp dụng ma trận 4 chặng: Tiếp cận (phái sinh, bản thể, chức năng), Phân tích (cấu trúc ngôn từ, hình tượng), Cắt nghĩa (tư tưởng, quan niệm nghệ thuật) và Bình giá (thẩm định giá trị thời đại). Ban giám hiệu nhà trường giám sát tiến độ thực hiện định kỳ hàng tháng, phấn đấu đạt 100% giáo viên đạt chuẩn kỹ năng thiết kế câu hỏi sau 6 tháng đào tạo nội bộ.
  3. Đổi mới hình thức sinh hoạt tổ chuyên môn: Các tổ chuyên môn trường phổ thông cần duy trì sinh hoạt chuyên đề về kỹ thuật đặt câu hỏi tích cực hóa với tần suất 2 tuần một lần. Mỗi học kỳ tiến hành dự giờ, phân tích và chuẩn hóa mẫu ít nhất 15 đến 20 giáo án thực nghiệm cho các tác phẩm văn học trọng tâm giai đoạn 1930 - 1945.
  4. Biên soạn ngân hàng câu hỏi phân hóa theo chuẩn đầu ra: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các cụm trường trung học phổ thông xây dựng ngân hàng ngữ liệu gồm tối thiểu 120 câu hỏi gợi mở, sáng tạo cho chương trình Ngữ văn lớp 11. Đề án biên soạn triển khai trong lộ trình 12 tháng, bảo đảm cung cấp tài liệu hướng dẫn chuẩn xác cho hơn 1.000 giáo viên trên toàn địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn sâu sắc và là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Giáo viên môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông: Luận văn cung cấp phương pháp luận và kỹ thuật đặt câu hỏi đa tầng, giúp giáo viên trực tiếp tháo gỡ khó khăn trong việc tổ chức giờ dạy học phân hóa, nâng cao tỷ lệ tương tác của học sinh trong lớp học từ 40 đến 45 học sinh lên mức trên 80%.
  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Ngữ văn: Nghiên cứu là nguồn ngữ liệu học thuật với hơn 45 tài liệu trích dẫn chuẩn mực, cung cấp khung phân tích bài bản về phương pháp dạy học tác phẩm thơ trữ tình lãng mạn kết hợp cùng thiết kế thực nghiệm 2 tiết học chi tiết bài thơ "Vội vàng".
  • Cán bộ quản lý giáo dục, tổ trưởng chuyên môn và chuyên viên thanh tra: Bản luận văn cung cấp bộ tiêu chí đánh giá định lượng 5 phương diện của câu hỏi sư phạm, hỗ trợ công tác kiểm tra, đánh giá giờ dạy của giáo viên một cách khách quan, khoa học và tiệm cận chuẩn đổi mới giáo dục.
  • Nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Cung cấp khung tham chiếu khoa học để thiết kế lại hệ thống 6 đến 8 câu hỏi hướng dẫn học bài cuối mỗi văn bản theo mô hình tích cực hóa hoạt động của người học.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống câu hỏi tích cực hóa khác biệt như thế nào so với câu hỏi dạy học truyền thống?
Câu hỏi truyền thống phần lớn chiếm tới 70% là câu hỏi tái hiện, kiểm tra trí nhớ máy móc và hướng học sinh vào câu trả lời đóng duy nhất của giáo viên. Ngược lại, câu hỏi tích cực hóa tập trung từ 60% đến 80% dung lượng vào các tình huống có vấn đề, kích hoạt tư duy phản biện, liên tưởng cá nhân và rèn luyện kỹ năng tự đọc hiểu suốt đời cho học sinh.

Làm cách nào để giáo viên phân bổ hệ thống câu hỏi hợp lý trong một tiết học 45 phút?
Trong khung thời gian 45 phút, giáo viên không nên đặt quá nhiều câu hỏi vụn vặt làm nát bài giảng. Cần tập trung vào 10 đến 12 câu hỏi then chốt phân bổ đều theo 4 chặng: Tiếp cận (khoảng 7 phút), Phân tích (khoảng 15 phút), Cắt nghĩa (khoảng 12 phút) và Bình giá, tổng kết (khoảng 8 phút), dành 3 phút còn lại cho hoạt động củng cố mở.

Học sinh có học lực trung bình và yếu có thể đáp ứng được các câu hỏi sáng tạo và tranh luận không?
Phương pháp này thiết kế câu hỏi theo cấu trúc bậc thang tăng dần từ cấp độ 1 đến cấp độ 6 của Bloom. Thực tế khảo sát tại 3 trường cho thấy, với các câu hỏi gợi mở, liên hệ trải nghiệm cá nhân ở mức độ vừa sức, khoảng 85% học sinh trung bình - yếu đều có thể tự tin phát biểu quan điểm riêng mà không sợ sai lệch đáp án mẫu.

Những điểm thắt nghệ thuật nào trong bài thơ "Vội vàng" cần tập trung đặt câu hỏi tích cực hóa?
Giáo viên cần tập trung khai thác 3 điểm thắt tư tưởng thẩm mỹ: ước muốn đoạt quyền tạo hóa bất khả thi ở 4 câu đầu; quan niệm thời gian tuyến tính một đi không trở lại đối lập với quan niệm tuần hoàn truyền thống ở đoạn giữa; và nhịp điệu dồn dập, khát khao tận hưởng cuộc sống trần thế ở 9 câu cuối thi phẩm.

Làm thế nào để lượng hóa mức độ tích cực hóa của học sinh sau khi áp dụng phương pháp này?
Mức độ tích cực được lượng hóa qua 3 chỉ số cụ thể: tỷ lệ học sinh tham gia chuẩn bị bài và đặt câu hỏi ngược lại cho giáo viên tăng từ 32% lên trên 85%; tỷ lệ câu trả lời có tính phản biện độc lập chiếm trên 50%; và điểm kiểm tra kỹ năng đọc hiểu văn bản mới đạt mức khá giỏi trên 75%.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bản chất, vai trò và yêu cầu của câu hỏi trong giờ học Ngữ văn theo tiếp cận thuyết tiếp nhận và thang đo Bloom.
  • Đề xuất mô hình phân loại gồm 8 dạng câu hỏi tích cực hóa chuyên sâu, gắn liền với tiến trình 4 giai đoạn chiếm lĩnh giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn chương.
  • Khảo sát thực chứng trên 300 học sinh tại 3 trường trung học phổ thông huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng, chỉ rõ 40% học sinh chưa được kích hoạt tư duy sáng tạo do câu hỏi giáo viên còn thụ động.
  • Thiết kế thể nghiệm thành công giáo án bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu, giúp tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi môn học nâng cao vượt bậc từ 38,5% lên 76,2%.
  • Đóng góp giải pháp thực tiễn có khả năng nhân rộng ngay cho hơn 1.000 giáo viên trung học phổ thông trong lộ trình chuyển đổi phương pháp dạy học từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học.

Quý thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu và học viên cao học hãy tham khảo ngay toàn văn luận văn thạc sĩ này để làm chủ bộ công cụ thiết kế câu hỏi tích cực hóa, góp phần nâng tầm chất lượng dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện đại.