Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế trên địa bàn Nghệ An. Chƣơng 3: Định hướng tăng cường vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam nói chung và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG XÃ HỘI HOÁ Y TẾ Ở VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề cơ bản về xã hội hoá y tế 1.1 Quan niệm về xã hội hoá và xã hội hoá y tế.
Ở Việt Nam những năm qua, có một thực tế là thuật ngữ “xã hội hoá” được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng cho đến nay chưa có một khái niệm (định nghĩa) thống nhất về “xã hội hoá”, chính xác hơn là chưa có sự giải nghĩa đầy đủ về nội hàm của thuật ngữ này. Chính điều này đã gây ra những khó khăn không nhỏ trong việc quán triệt và thực hiện ở một số lĩnh vực nằm trong chủ trương xã hội hóa mà nhà nước đề ra, trong đó có lĩnh vực y tế. Cách hiểu thông thường nhất là dùng nghĩa của từ “xã hội” cộng với nghĩa của từ “hoá”, như các cách giải thích sau đây: (1) hoạt động sản xuất- kinh doanh là hoạt động không thể tự một người hay một gia đình làm được, mà là một hoạt động có tổ chức và có tính tập thể cao; (2) hoạt động do nhà nước quyết định, điều động và kiểm soát- huy động mọi người làm chung; (3) hoạt động chung có tính tự nguyện: như là tập thể người bỏ vốn vào công ty, quyền tuỳ thuộc số tiền bỏ vốn ra; hay là các hợp tác xã mà người lao động làm chung, quyết định chung mỗi người một phiếu giống nhau; hay (4) xã hội hoá là mỗi người tự đóng góp, tự lo, nhà nước có xu hướng giảm đi trách nhiệm của mình. Nhìn chung, nhiều cách hiểu về “xã hội hoá” còn ít nhiều phiến diện, chưa làm rõ được bản chất của “xã hội hoá”.
Đi tìm trong các từ điển tiếng Việt, không tìm thấy cuốn từ điển nào giải nghĩa đầy đủ cho thuật ngữ “xã hội hoá” trên tư cách là một thuật ngữ độc lập. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy những sự giải nghĩa thuật ngữ “xã hội 6 hoá” khi nó được ghép với các thuật ngữ khác như: “xã hội hoá sản xuất”; “xã hội hoá hình thức”; “xã hội hoá thực tế”. Qua nghiên cứu các thuật ngữ trên có thể suy ra một cách khái quát rằng: “Xã hội hoá” một hoạt động nào đó chính là sự gia tăng tính chất “xã hội” của hoạt động ấy thông qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội dựa trên những điều kiện và trong khuôn khổ cơ chế nhất định. Điều kiện và cơ chế cụ thể như thế nào là phụ thuộc vào bối cảnh của xã hội hoá.
Những điều kiện và cơ chế đóng vai trò then chốt đối với sự thành công của xã hội hoá. Chúng quy định hình thức, phương thức “tham gia” của các chủ thể khác nhau trong xã hội vào hoạt động được xã hội hoá. Như vậy, điều kiện và cơ chế gắn với bối cảnh xã hội hoá sẽ quyết định ý nghĩa của “xã hội hoá” trong bối cảnh ấy. Hiện nay, trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn; một hiện tượng nổi cộm cần phải khắc phục đó là do chưa tìm hiểu kỹ nội dung về vấn đề này nên có một số địa phương, một số người còn có cách nhìn rất lệch lạc cho rằng xã hội hoá đơn thuần chỉ là quá trình quyên góp tiền bạc của nhân dân hoặc bắt dân phải đóng góp theo cách hiểu " Nhà nước và nhân dân cùng làm".
Không ít cán bộ lãnh đạo vẫn quan niệm rằng, xã hội hoá là huy động tiền của trong nhân dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Một số khác lại hiểu xã hội hoá là chuyển gánh nặng từ vai Nhà nước sang vai nhân dân, chuyển cho cộng đồng tự lo liệu, dẫn đến sự buông lỏng quản lý, thiếu đầu tư vào các lĩnh vực hoạt động xã hội. Mặt khác trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá; một số cán bộ lại nhấn mạnh quá mức việc đa dạng hoá, đồng nhất khái niệm xã hội với đa dạng hoá trong khi công tác quản lý còn yếu kém, không theo kịp dẫn đến tình trạnh "trăm hoa đua nở", đa dạng hoá một cách tuỳ tiện không kiểm soát được. Không ít cán bộ còn chưa nhận thấy được tầm quan trọng của sự phối 7 hợp liên ngành trong xã hội hoá dẫn đến tình trạng một số ngành còn hoạt động theo xu hướng khép kín biệt lập; nhất là trong việc triển khai các chương trình, dự án dẫn đến việc làm chồng chéo, lãng phí về nguồn lực.
Thực hiện xã hội hoá y tế, tức xã hội hóa việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân sẽ làm chuyển biến về cơ bản cách tiếp cận đối với việc phát triển sức khoẻ toàn dân, trong đó người dân giữ vai trò chủ động, tự giác và tích cực, tự quyết đinh lấy việc chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ bản thân, cộng đồng nơi họ đang sinh sống. Bởi vậy mà tính chất bền vững của những hoạt động này sẽ đảm bảo hơn. Họ không còn trông chờ ỷ lại vào nhà nước cấp trên, cũng không còn thực hiện một cách thụ động những quyết định từ trên áp đặt xuống nhiều khi không sát thực với nhu cầu sức khoẻ trong thực tiễn. Nhìn chung xã hội hoá y tế, hay xã hội hoá chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một sự chuyển đổi từ cách tiếp cận cũ sang cách tiếp cận mới làm cho sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân thực sự là một sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.
Tuy nhiên, khái niệm xã hội hoá y tế cần phải được hiểu một cách thống nhất. Trên mỗi cương vị khác nhau, lại có có cách tiếp cận riêng về khái niệm xã hội hóa y tế. Về phương diện quản lý nhà nước, thì theo Viện Chiến lược và Chính sách y tế - Bộ y tế, xã hội hóa y tế được hiểu là quá trình huy động sự tham gia tự nguyện, có kế hoạch của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các ban ngành đoàn thể, cá nhân, cộng đồng vào hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học Kinh tế chính trị xã hội hóa y tế thực chất là xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ y tế, một loại dịch vụ công.
Trước đây ở Việt Nam, dịch vụ này chủ yếu do nhà nước cung ứng, nay cùng với xu hướng khách quan của xã hóa sản xuất, dịch vụ y tế cũng cần được được xã hội hóa để thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều cá nhân 8 thuộc các thành phần kinh tế khác nhau vào việc cung ứng dịch vụ này để cùng với nhà nước thực hiện chương trình chăm sóc và bảo vệ sức khẻ cho nhân dân. Vì vậy, từ góc độ khoa học Kinh tế chính trị, có thể hiểu: xã hội hoá y tế là quá trình liên kết các dịch vụ y tế của nhiều chủ thể, thuộc nhiều thành phần khác nhau thành một chương trình có tính xã hội đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đối với mọi tầng lớp dân cư. Mục tiêu của xã hội hoá y tế là tăng cường huy động nguồn lực cho y tế, tạo cơ chế cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế, bảo đảm tính hiệu quả, tính công bằng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Trong quá trình này Bộ y tế giữ vai trò nòng cốt, có trách nhiệm động viên, tuyên truyền và quản lý việc cung ứng dịch vụ y tế của các tổ chức và cá nhân để cho xã hội hóa y tế thực sự là một quá trình của xã hội và cũng vì sự phát triển của xã hội.2 Nội dung của xã hội hoá y tế.
Nội dung xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người là động viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân trên cả hai mặt hoạt động và đóng góp; tăng cường sự phối hợp liên ngành và củng cố vai trò nòng cốt của Ngành Y tế. - Phát triển mạng lưới y tế với nhiều cấp độ, nhiều hình thức từ trung ương đến từng địa bàn ở các địa phương: Thực hiện đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân. ) trong đó y tế Nhà nước có vai trò chủ đạo, cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới sự quản lý của Nhà nước nhằm cung ứng dịch vụ ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước. Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân trong 9 và ngoài nước thành lập các phòng khám, chữa bệnh nhân đạo.
Mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, các nhà thuốc tư nhân, các quầy thuốc, tủ thuốc tại trạm y tế xã phục vụ sức khỏe cộng đồng. Ða dạng hóa các loại hình CSSK: Cho phép thành lập các bệnh viện bán công, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, các xí nghiệp dược phẩm tư nhân hoặc cổ phần. Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước đối với các nhà thuốc tư nhân, các phòng khám bệnh và chẩn trị tư nhân, kể cả các cơ sở chữa trị bằng y học cổ truyền. Nâng cao chất lượng mạng lưới y tế cơ sở, trước hết là đào tạo đủ y tá tại thôn bản, nữ hộ sinh và dược tá tại xã; có chính sách động viên bác sĩ, y sĩ, dược sĩ về công tác tại các cơ sở y tế xã.
- Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong việc cung ứng dịch vụ y tế: Xã hội hóa y tế để mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội.