mở đầu bằng sự kiện Sứ quán Malaysia tại Sài Gòn ngày 3/2/1971 gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Chính 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền Sài Gòn hỏi rằng quần đảo Trƣờng Sa hiện “thuộc” Nƣớc cộng hoà Morac Songhrati Meads có thuộc Cộng hòa Việt Nam hay Cộng hòa Việt Nam có yêu sách đối với quần đảo đó không? Ngày 20/4/1971, Chính quyền Sài Gòn trả lời rằng quần đảo Trƣờng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi xâm phạm đến chủ quyền Việt Nam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế. Tháng 12/1979, Chính phủ Malaysia cho xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia một khu vực phía Nam Trƣờng Sa, bao gồm cả đảo An Bang và Thuyền Chài nơi Việt Nam đang đóng giữ. Từ năm 1983-1984, Malaysia cho quân đóng 3 bãi ngầm ở phía Nam Trƣờng Sa là Hoa Lau, Kỳ Vân, Kiệu Ngựa. Năm 1988, họ đóng quân cờ 2 bãi ngầm Én Đất và Thám Hiểm, đƣa số vị trí mà Malaysia chiếm đóng lên đến 5 điểm.
Quan điểm pháp lý cũng nhƣ các chứng cứ của các bên tranh chấp đƣa ra để bảo vệ cho lập trƣờng của mình cũng rất khác nhau, trong đó, Trung Quốc căn cứ vào quyền thụ đắc lãnh thổ dựa trên nguyên tắc phát hiện đầu tiên, Việt Nam căn cứ vào quyền thụ đắc lãnh thổ dựa trên nguyên tắc chiếm hữu thật sự, Philippines và Malaysia căn cứ vào quyền thụ đắc lãnh thổ dựa trên nguyên tắc kế cận lãnh thổ. * Tranh chấp ranh giới biển, thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề: - Đây là loại tranh chấp đƣợc hình thành trong xu hƣớng thay đổi có tính chất cách mạng về địa - chính trị, địa - kinh tế trên phạm vi thế giới với việc khoảng 36% diện tích biển và đại dƣơng thế giới đã đƣợc đặt dƣới chủ quyền, quyền chủ quyền tài phán của các quốc gia ven biển kể từ khi Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về Luật biển đã đƣợc thông qua năm 1982. Việc đàm phán xác định ranh giới biển và thềm lục địa giữa các nƣớc liên quan Biển Đông đã, đang và sẽ tiến hành giải quyết cho các khu vực sau đây: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở trong Vịnh Bắc Bộ và khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ có liên quan giữa Việt Nam - Trung Quốc, nơi mà biển đối diện nhau và cách nhau dƣới 400 hải lý. + Ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở phía Nam Biển Đông có liên quan giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei, Indonesia.
+ Ranh giới các vùng biển, thềm lục địa có liên quan giữa Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Camphuchia. + Ranh giới biển của phạm vi biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trƣờng Sa giữa các bên tranh chấp có liên quan. Cho đến thời điểm hiện nay, các bên liên quan đã giải quyết: Ranh giới biển trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, ký ngày 25/12/2000; Ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Indonesia tại vùng thềm lục địa phía Nam Biển Đông, ký ngày 23/6/2003; Ranh giới Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Thái Lan có liên quan giữa Việt Nam và Thái Lan, ký ngày 9/8/1997; Thỏa thuận về giải pháp tạm thời cùng khai thác vùng chống lấn đƣợc ký kết giữa Việt Nam và Malaysia ngày 5/6/1992; Hiệp định về “Vùng nƣớc lịch sử” giữa Việt Nam và Camphuchia, ký ngày 7/7/1982. - Việc xác định ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nƣớc có liên quan còn lại là rất lớn, khó khăn và phức tạp.
Nguyên nhân chủ yếu: Các nƣớc ven Biển Đông đã đƣa ra yêu sách về các vùng biển và thềm lục địa trong Biển Đông rất khác nhau, hoặc do hoàn toàn không tuân thủ các quy định có liên quan của Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về Luật biển, hoặc do giải thích và vận dụng các tiêu chuẩn của Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về Luật Biển một cách chủ quan, không chính xác, thậm chí hoàn toàn sai lệch sao cho có lợi nhất khi tiến hành đàm phán với các bên hữu quan để phân định ranh giới biển và thềm lục địa giữa Biển Đông. Ngoài ra, hai quần 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa vừa đang ở trong tình trạng tranh chấp phức tạp về chủ quyền lãnh thổ, vừa tồn tại những quan niệm khác nhau về hiệu lực đối với việc xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa của chúng. * Yêu sách, lợi ích của các quốc gia, vùng lãnh thổ ở Biển Đông: - Với Trung Quốc: Trung Quốc đƣa ra yêu sách “đƣờng lƣỡi bò” chiếm 2/3 Biển Đông. Về mặt địa chính trị, Biển Đông là địa bàn chiến lƣợc quan trọng để Trung Quốc thực hiện chính sách “Nam tiến”.
Với khoảng 90% lƣợng hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc đƣợc vận chuyển bằng đƣờng biển tới 600 hải cảng lớn trên thế giới và ngƣợc lại, trong 27 tuyến vận tải đƣờng biển chủ yếu từ Trung Quốc đi thế giới thì 17 tuyến đi qua Biển Đông đến 125 nƣớc và khu vực; Biển Đông là đƣờng thông thƣơng trên biển có tầm quan trọng lớn của Trung Quốc. Bên cạnh đó, nguồn năng lƣợng trong lục địa Trung Quốc (than đá, dầu mỏ) đang cạn dần, nhu cầu tiêu thụ tài nguyên, năng lƣợng của Trung Quốc ngày càng bức thiết, Trung Quốc đang phải hƣớng tới nguồn dầu mỏ phong phú ở Biển Đông, nhất là vùng biển Trƣờng Sa mà Trung Quốc coi là nơi có trữ lƣợng dầu mỏ nằm trong đƣờng biên giới truyền thống của Trung Quốc khoảng 23,5 tỉ tấn. Bởi vậy, báo chí Trung Quốc thƣờng xuyên mô tả Biển Đông là “ánh sáng hy vọng”, là “lối thoát” của Trung Quốc.[13] - Với các nƣớc ASEAN: Mối quan tâm của các nƣớc ASEAN đến Biển Đông không chỉ xuất phát từ vấn đề chủ quyền lãnh thổ (trong 6 bên đòi chủ quyền, có 4 nƣớc là thành viên của tổ chức ASEAN) mà còn xuất phát từ tầm quan trọng của Biển Đông đối với các nƣớc này về mặt kinh tế và chiến lƣợc, đặc biệt có ý nghĩa phòng thủ đối với các quốc gia ven biển. Các nƣớc ASEAN lo ngại rằng, những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông có thể đe dọa đến an ninh và ổn định của khu vực, và từ đó tác động tiêu cực 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến môi trƣờng phát triển của các nƣớc thành viên, ảnh hƣởng xấu đến việc thực hiện mục tiêu của tổ chức này về hợp tác kinh tế, chính trị và nâng cao hơn nữa vị trí của ASEAN trong các vấn đề khu vực.
Có thể nói, các nƣớc ASEAN coi yêu cầu đảm bảo hòa bình, ổn định trong khu vực là phƣơng châm chỉ đạo trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại khu vực. - Mỹ: Biển Đông nằm trên con đƣờng giao thông huyết mạch nối liền Thái Bình Dƣơng với Ấn Độ Dƣơng, giữa Châu Âu và Châu Á, giữa Trung Đông và Đông Á, có tầm quan trọng lớn về giao thông hàng hải đối với Mỹ; mặt khác, yếu tố rất quan trọng trong lợi ích chiến lƣợc của Mỹ ở Biển Đông là bảo đảm cho các hạm đội của Mỹ và hải quân của các nƣớc đồng minh của Mỹ đƣợc tự do đi lại, triển khai sức mạnh để bảo vệ lợi ích kinh tế, an ninh của Mỹ và đồng minh trong khu vực; đồng thời triển khai các bƣớc đi của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc và chống khủng bố quốc tế ở Châu Á. Mặc dù Mỹ không chính thức đƣa ra quan điểm và không can dự trực tiếp vào những tranh chấp biển đảo trên Biển Đông song Chính phủ Mỹ khuyến khích các “nhà nƣớc hiếu chiến” giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và bảo vệ nguyên tắc tự do lƣu thông trên biển. Trong diễn đàn khu vực ASEAN tháng 7/2010, Ngoại trƣởng Mỹ Hillary Clinton đã tuyên bố tự do lƣu thông hàng hải là “lợi ích quốc gia” của Mỹ và những yêu sách lãnh thổ trên Biển Đông phải dựa trên cơ sở pháp lý theo luật biển.
- Nhật Bản: Nhật Bản phải nhập khẩu hầu hết các nguyên liệu từ nƣớc ngoài (khoảng 80%), trong đó trên 90% là dầu lửa, chủ yếu nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á. 75% nguyên liệu nhập khẩu của Nhật Bản phải vận chuyển qua Biển Đông tới hai cảng lớn nhất là Yokohama và Kobe. Nhật Bản là nƣớc có độ lệ thuộc vào buôn bán qua biển lớn nhất thế giới: 92% so với 64% của Mỹ, 43% của Đức, 73% của Anh [20]. Tuy là cƣờng quốc về kinh tế, nhƣng vai trò chính trị của Nhật Bản còn hạn chế.
Khu vực Biển Đông có 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tầm quan trọng to lớn đối với việc phát huy vai trò chính trị của Nhật Bản ở Châu Á - Thái Bình Dƣơng và trên thế giới. Đối với Nhật Bản, hạn chế ảnh hƣởng của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có lợi cho Nhật Bản tranh thủ các nƣớc Đông Nam Á, có lợi cho việc giải quyết vấn đề lãnh thổ đang tranh chấp với Trung Quốc (quần đảo Senkaku/Điếu Ngƣ và vùng biển Hoa Đông chồng lấn giữa hai nƣớc); và có lợi cho Hiệp ƣớc An ninh Nhật - Mỹ kiềm chế Trung Quốc trong toàn khu vực. - Nga, Ấn Độ: Cũng nhƣ Mỹ và các nƣớc lớn khác, mặc dù Nga, Ấn Độ không liên quan trực tiếp đến cuộc tranh chấp đa phƣơng ở Biển Đông nhƣng nƣớc Nga có nhiều lợi ích quan trọng, kể cả lợi ích chiến lƣợc ở Biển Đông. Sự có mặt thƣờng xuyên của Nga, Ấn Độ ở Biển Đông không những khẳng định vai trò nƣớc lớn trong khu vực mà còn liên quan đến chính sách đối ngoại của Nga, cũng nhƣ Ấn Độ đối với ASEAN và các vấn đề an ninh trong khu vực trong đó ảnh hƣởng của các nƣớc lớn khác ở đây đang tăng lên.