Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ YÊU SÁCH CỦA TRUNG QUỐC TRÊN BIỂN ĐÔNG 1. Vị trí địa chiến lược của Biển Đông Biển Đông là một vùng biển nửa kín nằm tại rìa lục địa và là một vùng cấu thành nên Thái Bình Dương bao quanh các quốc gia gồm: Việt Nam, Trung Quốc, Phi – Líp – Pin, In – đô – nê – xia, Bờ - ru – nây, Mã Lai, Xing – ga – po, Thái Lan, Cam – Pu – Chia và Đài Loan. Biển Đông có chiều rộng 3. Hình ảnh Biển Đông trên bản đồ khu vực [12] Dựa theo văn hóa và tín ngưỡng của từng vùng miền mà Biển Đông được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau.
Cụ thể: (i) Với Việt Nam, Biển Đông được coi là tên gọi truyền thống được ghi chép lại trong một số văn bản như: Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi với nhiều cái tên khác nhau như bể Đông hay Đông Hải có nghĩa là vùng biển nằm ở phía Đông. 6 (ii) Cách gọi theo phương Tây phổ biến nhất hay được nhắc đến là “Biển Nam Trung Hoa” (Soth China Sea) hay thường được gọi tắt là biển Hoa Nam. Biển Đông là một vùng biển rộng lớn với nguồn tài nguyên thiên dồi dào cùng với đó là con đường trung gian tiếp nối với các đại dương lớn là 5 trong 10 tuyến đường biển lớn nhất của thế giới, nối liền Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, Châu Âu - Châu Á và Trung Đông. Đối với các quốc gia tiếp giáp với Biển Đông đặc biệt là với Việt Nam và Trung Quốc thì đây là một lợi thế để các nước tận dụng nhằm phát triển toàn diện về kinh tế - văn hoá - xã hội, giao thông vận tải và an ninh quốc phòng.
Vị trí chiến lược của Biển Đông đối với Việt Nam Đối với Việt Nam, quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km2 với tỷ lệ khoảng 100 km2/1 km bờ biển, cùng 2 quần đảo lớn: Hoàng Sa - Trường Sa và 3000 hòn đảo lớn nhỏ khác thì Biển Đông đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc [10]. Việt Nam với 28/63 tỉnh thành phố giáp biển, điều này đã tạo động lực để Biển Đông là một trong những nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Theo đó, vị trí chiến lược của Biển Đông đối với Việt Nam được thể hiện dưới các khía cạnh sau: a. Xét trên khía cạnh kinh tế xã hội Vùng Biển Đông bao gồm các loại tài nguyên thiên nhiên phong phú, có giá trị kinh tế cao cùng nguồn lợi thủy hải sản đa dạng.
Theo nhiều báo cáo điều tra thì nguồn lợi có ý nghĩa về mặt kinh tế xã hội gồm khoảng 11.000 loài cư trú, 657 loài động vật phù du, 225 loài tôm biển cùng hơn 2.000 loài cá khác nhau. Ngoài ra, dọc ven biển Việt Nam có nhiều bãi nuôi trồng thủy sản của nông dân địa phương đem lại nguồn lợi kinh tế cao; đặc biệt có giá trị xuất khẩu lớn như một số mặt hàng tôm, cua, rong biển …. Trong số các nguồn tài nguyên có giá trị Biển Đông đem lại cho Việt Nam thì dầu khí được đánh giá là nguồn tài nguyên mũi nhọn, có nhiều triển vọng để khai thác và phát triển tại vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Các bể trầm tích có tiềm năng dầu khí lớn của Việt Nam gồm: Tư Chính – Vũng Mây, 7 Nam Côn Sơn, Nam Côn Sơn, Sông Hồng ….
Đặc biệt, dầu khí được đánh giá là tài nguyên có triển vọng phát triển lớn nhất tại thềm lục địa nước ta với dự báo khoảng 10 tỷ tấn. Cùng với tiềm năng dầu khí, Biển Đông đem lại cho Việt Nam nguồn khí đốt phong phú với trữ lượng khoảng 3.000 tỷ m3 khai thác/năm [11]. Ngoài dầu khí thì vùng biển Việt Nam còn nhiều nguồn tài nguyên có ý nghĩa chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội như: than, sắt, ti tan, băng chảy, các loại vật liệu xây dựng, các loại đất hiếm…. Ngoài ra, nhờ những ưu thế do điều kiện tự nhiên mang lại, Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện những sắc thái riêng về ngành công nghiệp du lịch và cũng từ đây Việt Nam đang củng cố vai trò và nâng tầm vị trí của ngành công nghiệp không khói này trong sự nghiệp phát triển kinh tế.
Với lợi thế có đường bờ biển kéo dài cùng sự góp mặt của nhiều vũng vịnh, hang động tự nhiên và các dãy núi lớn nhỏ liên kết tạo thành nhiều điểm du lịch hiếm có trên thế giới. Đặc biệt với sự đóng góp trên 80 hòn đảo ven bờ cùng hệ sinh thái bao quanh hấp dẫn và độc đáo đã tạo đà kích cầu du lịch nhằm phát triển kinh tế xã hội của các địa phương ven biển. Đây là những địa điểm hấp dẫn thu hút lượng khách du lịch lớn cả trong nước và quốc tế, tiêu biểu như: Côn Đảo, Phú Quý, Phú Quốc.…[11] Các thành phố, thị xã ven biển đang là một trong những nơi tập trung đầu tư các khu công nghiệp để nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây chính là một phần để kích cầu phát triển kinh tế cũng như phát triển mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước.
Mặt khác, tại các khu công nghiệp đã thu hút nhiều lao động trong nước tham gia lao động và sản xuất, để từ đó góp phần giải quyết việc làm cho người lao động và góp phần ổn định tình hình kinh tế chính trị xã hội. Như vậy, Biển Đông đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tận dụng để phát triển các ngành nghề mũi nhọn có ý nghĩa quan trọng về phát triển kinh tế xã hội b. Xét trên khía cạnh giao thông – hàng hải Với sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên đã tạo tiền đề để Việt Nam có những bước phát triển về giao thông - hàng hải với 34 cảng biển, trong đó có 2 cảng lớn và phát triển lâu đời là Hải Phòng và Vũng Tàu [43]; đây là đầu mối giao thông quan 8 trọng để thông thương hàng hóa giữa Việt Nam cùng các nước trong khu vực và quốc tế. Dọc bờ biển, có nhiều khu vực nước sâu để xây dựng cảng như: Cam Ranh, Thị Vải, Vũng Áng, Chân Mây….Các cảng nước sâu được xây dựng đang tạo đà kích thích khối lượng luân chuyển hàng hóa giữa Việt Nam cùng các khu vực trên thế giới.
Chính những nhân tố trên đang thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển với những bước tiến vững chắc trong giai đoạn hiện nay. Về khía cạnh An ninh Quốc Phòng Xét về đặc điểm địa hình và vị trí, vai trò của Biển Đông đối với các chính sách quốc phòng an ninh của Việt Nam có thể khẳng định: “đây là tuyến phòng thủ chiến lược của đất nước”. Điều này đã được minh chứng thông qua những chiến công hiển hách trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, Biển Đông luôn là “lá chắn thép” đã cùng ông cha ta bảo vệ Tổ quốc trước các cuộc đổ bộ xâm lược của kẻ thù, góp công lớn vào lịch sử chống giặc ngoại xâm hàng ngàn năm qua của dân tộc. Những chiến công hiển hách của nhân dân Việt Nam từ khi thành lập nước cho đến giai đoạn hiện nay là những minh chứng về vai trò của Biển Đông đối với sự nghiệp quốc phòng an ninh của Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, biển đảo luôn có những giá trị chiến lược với vai trò tăng chiều sâu phòng thủ của đất nước. Dựa trên đặc điểm cấu trúc địa hình của Việt Nam với cấu trúc hình chữ S cùng đường bờ biển chạy dọc từ Bắc vào Nam với chiều ngang hẹp nên khi đánh giá tổng thể về khả năng chiều sâu phòng thủ của đất nước sẽ bị nhiều hạn chế. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể tận dụng, kết hợp các đảo và quần đảo để xây dựng, củng cố thành những vị trí, căn cứ tiền tiêu của các lực lượng Hải quân, cảnh sát biển và kiểm ngư của ta thì biển, đảo sẽ có vai trò đắc lực trong các chiến lược phòng thủ của đất nước đặc biệt là tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả của đất nước. Với tình hình khu vực và thế giới đang tồn tại nhiều tranh chấp về chủ quyền biển đảo, đặc biệt là khu vực Biển Đông.
Đây là những tranh chấp tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định về chính trị, kinh tế, quân sự do các quốc gia có tiềm lực đang thực hiện hóa những âm mưu, tham vọng của mình tại khu vực Biển Đông nhằm đe dọa chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia yếu thế 9 hơn trên trường quốc tế. Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển kéo dài, đây được đánh giá là một lợi thế cũng như một thách thức vì hiện nay vùng biển Việt Nam đang là khu vực có nhiều tranh chấp. Nhận thức rõ vai trò và ý nghĩa của Biển Đông với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn coi trọng tăng cường tiềm lực về sức mạnh của lực lượng Hải quân cùng các lượng lượng thực thi pháp luật trên biển như: Kiểm ngư, Cảnh sát biển. Để huy động mọi lợi thế và khai thác hết tiềm năng của biển cần kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng – an ninh và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế để tạo môi trường hòa bình, ổn định cùng hợp tác và phát triển.
Trong đó, vấn đề về chủ quyền biển, đảo luôn là vấn đề trọng tâm được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đặc biệt theo dõi và quan tâm. Vị trí chiến lược của Biển Đông với Trung Quốc Biển Đông là một vùng biển chiến lược với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản quan trọng và có giá trị kinh tế cao. Một số học giả Trung Quốc đã ví von, đây là: “Con đường tơ lụa trên biển” nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương [08 trg 14] Đối với Trung Quốc - một cường quốc về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự thì Biển Đông có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong các chính sách phát triển của Trung Quốc, cụ thể như sau: a. Xét trên khía cạnh kinh tế - xã hội: Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đặc biệt là nguồn năng lượng dồi dào với: khí đốt, than đá, dầu mỏ, dầu khí, băng cháy ….
sẽ giúp Trung Quốc giải quyết bài toán về “năng lượng”.