Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Thực trạng nguồn nhân lực y tế dự phòng tỉnh Hà Giang" do học viên Nguyễn Bá Văn thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đàm Thị Tuyết, bảo vệ tại Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên năm 2013. Luận án thuộc hệ đào tạo Bác sĩ Chuyên khoa II, chuyên ngành Y tế công cộng (Mã số: CK 62 72 76 01).

Y tế dự phòng giữ vai trò nền tảng trong hệ thống y tế Việt Nam với quan điểm xuyên suốt là dự phòng tích cực và chủ động. Những thành tựu thanh toán bệnh bại liệt, uốn ván sơ sinh, tỷ lệ tiêm chủng mở rộng đạt trên 90% hàng năm, cùng việc khống chế các dịch bệnh như SARS, cúm A (H5N1) đã khẳng định tầm quan trọng của mạng lưới dự phòng. Nhằm chuẩn hóa hệ thống, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 255/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, cùng Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước.

Hà Giang là một tỉnh miền núi vùng cao phía Bắc, có diện tích tự nhiên 7.884,37 km², gồm 10 huyện và 01 thành phố với 195 xã, phường, thị trấn (trong đó có 126 xã đặc biệt khó khăn) và 2.067 thôn bản. Dân số toàn tỉnh thời điểm nghiên cứu là 769.074 người, mật độ dân số 95 người/km², tỷ lệ hộ nghèo chiếm khoảng 35,38%, thu nhập bình quân đầu người khoảng 9,6 triệu đồng/người/năm. Địa hình núi cao chia cắt phức tạp, giao thông cách trở trong mùa mưa lũ khiến việc tiếp cận dịch vụ y tế của người dân gặp nhiều trở ngại. Do đó, năng lực của mạng lưới y tế dự phòng là yếu tố mang tính quyết định trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Trước thời điểm năm 2013, tại Hà Giang chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách tổng thể, toàn diện về thực trạng số lượng, cơ cấu, trình độ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế dự phòng. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này với 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng số lượng, trình độ và cơ cấu nhân lực tại các cơ sở y tế dự phòng của tỉnh Hà Giang năm 2013.
  2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, cơ cấu và trình độ cán bộ của các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Hà Giang. Xác định nhu cầu nhân lực tại các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2018.

Nghiên cứu được triển khai trên toàn bộ cán bộ y tế đang công tác tại các cơ sở y tế dự phòng tuyến tỉnh và tuyến huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hà Giang, cùng hệ thống sổ sách, báo cáo nhân lực liên quan, trong mốc thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý nguồn nhân lực y tế và hệ thống y tế dự phòng:

  • Khái niệm và chuẩn mực quốc tế: Dẫn chiếu định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006) về nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nâng cao sức khỏe. Đồng thời, tác giả tổng hợp số liệu so sánh nhân lực y tế tại khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương (tỷ số bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, dược sĩ trên một vạn dân tại các quốc gia như Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc và Việt Nam).
  • Chính sách và định mức biên chế quốc gia: Phân tích các tiêu chí trong Quyết định 255/2006/QĐ-TTg và định mức tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV (TT 08) của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định về cơ cấu bộ phận (chuyên môn 60–65%, xét nghiệm 20%, quản lý/hành chính 15–20%), tỷ lệ chuyên môn (bác sĩ tuyến tỉnh ≥ 30%, tuyến huyện ≥ 20%; kỹ thuật viên xét nghiệm tuyến tỉnh ≥ 20%, tuyến huyện ≥ 10%) và hệ số điều chỉnh theo vùng địa lý (tuyến tỉnh miền núi áp dụng hệ số 1,2; tuyến huyện miền núi áp dụng hệ số 1,3).
  • Các nghiên cứu thực trạng tại Việt Nam:
    • Khảo sát năm 2007 của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường trên 1.512 cán bộ tại 60 trung tâm y tế dự phòng huyện thuộc dự án tiểu vùng sông Mê Kông cho thấy: trình độ trung cấp chiếm 67,5%, bác sĩ chỉ chiếm 11,2%, cán bộ có bằng chuyên ngành y học dự phòng chỉ đạt 2%, chỉ có 26,7% số trung tâm đạt đủ tỷ lệ bác sĩ theo quy định của TT 08.
    • Điều tra năm 2009 của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường trên phạm vi toàn quốc với 28.302 cán bộ y tế dự phòng: nhân lực sau đại học chiếm 7,2%, đại học chiếm 14,5%, trung cấp chiếm 55,8%, kỹ thuật viên xét nghiệm chiếm 5,3%. Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu nhân lực ở tuyến trung ương đạt 76%, tuyến tỉnh đạt 55% và tuyến huyện đạt 43,5%.
    • Nghiên cứu của tác giả Võ Văn Thắng (2009) tại tỉnh Long An: cán bộ y tế dự phòng chiếm 17% tổng biên chế toàn ngành (540/3.176 cán bộ), tỷ lệ bác sĩ tuyến tỉnh đạt 26,9% (chưa đạt mức quy định ≥ 30%), kỹ thuật viên xét nghiệm tuyến tỉnh chỉ đạt 3,7% (thấp hơn nhiều so với quy định ≥ 20%), tuyến huyện đạt 18,5% bác sĩ và 3,3% kỹ thuật viên xét nghiệm.
    • Dự thảo Quy hoạch phát triển nhân lực và hệ thống đào tạo y tế đến năm 2020 của Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế, xác định mức thiếu hụt nhân lực dự phòng toàn quốc lên đến 23.866 người.

Vị trí của luận án: Kế thừa khung lý thuyết quản lý nhân lực y tế và phương pháp so sánh định mức của Thông tư 08/2007/TTLT/BYT-BNV, luận án của Nguyễn Bá Văn là công trình đầu tiên tập trung giải quyết bức tranh nhân lực y tế dự phòng tại một tỉnh miền núi địa đầu cực Bắc có điều kiện kinh tế - xã hội và giao thông đặc thù như Hà Giang.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các khái niệm nền tảng:

  • Quản lý nhân lực y tế: Khoa học sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực y tế nhằm thực hiện mục tiêu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
  • Phân định Y học dự phòng và Y học điều trị: Y học điều trị tập trung vào cá thể, chẩn đoán, điều trị bệnh và đáp ứng nhu cầu người bệnh; Y tế dự phòng tập trung vào quần thể, nhận dạng và can thiệp các yếu tố nguy cơ (cả bệnh truyền nhiễm và bệnh mãn tính không lây), giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh và kéo dài tuổi thọ cộng đồng.
  • Y tế công cộng: Khoa học và nghệ thuật phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ thông qua các nỗ lực có tổ chức của xã hội.
  • Khung định mức tham chiếu: Sử dụng bảng định mức biên chế, cơ cấu chuyên môn, cơ cấu bộ phận và hệ số điều chỉnh vùng địa lý theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và phương pháp định tính.
  • Thời gian và địa điểm:
    • Thời gian: Từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2013.
    • Địa điểm: Bao gồm 19 đơn vị y tế dự phòng trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hà Giang:
      • Tuyến tỉnh (08 đơn vị): Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe, Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc - Mỹ phẩm - Thực phẩm, Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Trung tâm Phòng chống sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng.
      • Tuyến huyện (11 đơn vị): Trung tâm Y tế của 10 huyện (Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê, Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Xín Mần, Hoàng Su Phì) và Thành phố Hà Giang.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu:
    • Nghiên cứu định lượng: Chọn mẫu toàn bộ (N = 583 cán bộ y tế đang làm việc tại các cơ sở y tế dự phòng toàn tỉnh; 392 cán bộ tự điền phiếu khảo sát thực trạng và nhu cầu đào tạo; 38 cán bộ lãnh đạo tham gia phỏng vấn). Loại trừ các đối tượng không đồng ý tham gia hoặc làm việc theo hợp đồng thời vụ.
    • Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu có chủ đích, tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm nhỏ (mỗi nhóm 12 người):
      • Nhóm 1: Nhóm lãnh đạo và cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh.
      • Nhóm 2: Nhóm cán bộ y tế dự phòng huyện Bắc Quang (đại diện vùng địa hình núi thấp).
      • Nhóm 3: Nhóm cán bộ y tế dự phòng huyện Yên Minh (đại diện vùng địa hình núi cao).
  • Thu thập và xử lý số liệu:
    • Công cụ: Biểu mẫu thu thập số liệu nhân lực tại Phòng Tổ chức cán bộ Sở Y tế; bộ câu hỏi tự điền cho cán bộ; phiếu phỏng vấn cán bộ lãnh đạo; hướng dẫn thảo luận nhóm.
    • Xử lý số liệu: Số liệu định lượng được nhập, kiểm tra tính logic và phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Excel. Dữ liệu định tính được ghi chép, phân nhóm nội dung và trích dẫn theo chủ đề.
    • Đạo đức nghiên cứu: Được sự đồng ý của Sở Y tế tỉnh Hà Giang, bảo đảm tính tự nguyện tham gia và bảo mật tuyệt đối thông tin người cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về quản lý nhân lực y tế, vai trò của y tế dự phòng trong mối quan hệ với y tế công cộng và y học điều trị. Tác giả phân tích các văn bản quy phạm pháp luật định hướng chiến lược đến năm 2020, chi tiết hóa định mức biên chế sự nghiệp theo TT 08 đối với từng loại hình trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh và trung tâm y tế tuyến huyện theo quy mô dân số và hệ số vùng địa lý. Chương 1 cũng trình bày thực trạng thiếu hụt nhân lực dự phòng tại Việt Nam dựa trên các cuộc điều tra quy mô quốc gia của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường (2007, 2009) và các nghiên cứu địa phương (Long An, 2009).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng tại 19 cơ sở y tế dự phòng tỉnh Hà Giang. Chương 2 mô tả rõ các tiêu chuẩn lựa chọn, loại trừ, quy trình chọn mẫu toàn bộ cho khảo sát định lượng (583 cán bộ) và chọn mẫu có chủ đích cho 3 nhóm thảo luận định tính (36 người). Các nhóm chỉ số nghiên cứu được phân loại rõ ràng: đặc điểm nhân khẩu học, thực trạng số lượng so với định mức TT 08, cơ cấu trình độ chuyên môn, cơ cấu bộ phận, các yếu tố ảnh hưởng (năng lực, công việc chuyên môn, hỗ trợ tuyến trên) và nhu cầu nhân lực giai đoạn 2014–2018.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

  • Cơ cấu giới và tuổi: Nữ giới chiếm 54,0% (315 người), nam giới chiếm 46,0% (268 người). Nhóm tuổi từ 30–39 chiếm tỷ lệ cao nhất (31,4%), tiếp đến là nhóm dưới 30 tuổi (31,2%), nhóm 40–49 tuổi (30,2%); nhóm trên 50 tuổi chỉ chiếm 7,2%.
  • Thời gian công tác trong YTDP: Nhóm có thâm niên từ 1–5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,8% (tuyến tỉnh 38,6%, tuyến huyện 34,1%); nhóm 6–10 năm chiếm 16,6%; nhóm 11–15 năm chiếm 17,3%; nhóm 16–20 năm chiếm 13,9%; nhóm trên 20 năm chiếm 16,3%.
  • Nơi đào tạo: Đa số cán bộ được đào tạo tại khu vực Đông Bắc (45,1% toàn tỉnh; tuyến tỉnh 43,2%, tuyến huyện 46,3%), đào tạo tại tỉnh Hà Giang chiếm 24,9%, đào tạo tại Hà Nội chiếm 20,1% và ngoài khu vực Đông Bắc chiếm 9,9%.

2. Thực trạng số lượng cán bộ y tế dự phòng so với định mức TT 08/BYT-BNV

Toàn tỉnh Hà Giang có tổng cộng 583 cán bộ y tế dự phòng, trong đó tuyến tỉnh có 220 cán bộ (chiếm 37,7%) và tuyến huyện có 363 cán bộ (chiếm 62,3%).

Tuyến công tác Số lượng hiện có (người) Định mức tối thiểu TT 08 (người) Tỷ lệ đạt mức tối thiểu (%) Định mức tối đa TT 08 (đã tính hệ số vùng) Tỷ lệ đạt mức tối đa (%)
Tuyến tỉnh (08 đơn vị) 220 216 102,0% 256 (hệ số 1,2) 85,9%
Tuyến huyện (11 đơn vị) 363 368 98,6% (hệ số 1,3) 441 (hệ số 1,3) 82,3%
Toàn tỉnh 583 584 99,8% 697 83,6%
  • Tuyến tỉnh: Có 3/8 đơn vị chưa đạt định mức tối thiểu: TT Y tế dự phòng tỉnh (đạt 91,0%), TT Kiểm nghiệm Thuốc-MP-TP (đạt 92,0%), TT Phòng chống bệnh xã hội (đạt 87,5%). Khi so với mức tối đa (hệ số 1,2), chỉ có 2 đơn vị đạt và vượt: TT Truyền thông GDSK (100%) và TT Phòng chống sốt rét, KST-CT (133,3%).
  • Tuyến huyện: Toàn tuyến chỉ đạt 98,6% định mức tối thiểu (đã nhân hệ số 1,3). Có 3 đơn vị chưa đạt mức tối thiểu: TTYT TP Hà Giang (84,4%), TTYT huyện Vị Xuyên (82,5%), TTYT huyện Xín Mần (90,6%). Khi so với mức tối đa, chưa có đơn vị tuyến huyện nào đạt định mức (trung bình toàn tuyến đạt 82,3%).

3. Thực trạng cơ cấu trình độ chuyên môn của cán bộ y tế dự phòng

Trình độ chuyên môn Tuyến tỉnh (n=220) Tuyến huyện (n=363) Toàn tỉnh (N=583) Tỷ lệ toàn tỉnh (%)
Bác sĩ (Tổng cộng) 53 63 116 19,9%
- Bác sĩ CKI 26 26 52 8,9%
- Thạc sĩ 0 2 2 0,3%
- Bác sĩ CKII / Tiến sĩ 0 0 0 0,0%
- Bác sĩ đa khoa 25 34 59 10,1%
- Bác sĩ Nha khoa 2 1 3 0,5%
Y sỹ đa khoa 44 136 180 30,8%
Dược sĩ (Tổng cộng) 28 30 58 9,9%
- Sau đại học 0 1 1 0,2%
- Đại học 6 4 10 1,7%
- Trung học 22 25 47 8,1%
Điều dưỡng 11 22 33 5,7%
Kỹ thuật viên (chủ yếu KTVXN) 14 13 27 4,6%
- KTV Xét nghiệm trung học 14 12 26 4,4%
- Sơ học 0 1 1 0,2%
- Cử nhân / Cao đẳng xét nghiệm 0 0 0 0,0%
Cử nhân Y tế công cộng 0 1 1 0,4% (tính trên nhóm ĐH)
Hộ sinh (Trung học) 9 37 46 7,9%
Chuyên ngành khác 61 62 123 21,1%
- Đại học ngành khác 25 6 31 5,3%
- Cao đẳng ngành khác 6 8 14 2,4%
- Trung học ngành khác 20 26 46 7,9%
- Khác 10 22 32 5,5%
  • Phân bố theo bậc đào tạo:
    • Tuyến tỉnh: Trung học chiếm đa số với 52,3%; Đại học chiếm 25,9%; Sau đại học chiếm 11,8%; Cao đẳng chiếm 2,7%; Sơ học chiếm 0,5%; Không qua đào tạo chuyên môn y tế chiếm 6,8%.
    • Tuyến huyện: Trung học chiếm áp đảo với 69,7%; Đại học chiếm 14,0%; Sau đại học chiếm 8,0%; Cao đẳng chiếm 2,2%; Sơ học chiếm 1,4%; Không qua đào tạo chuyên môn chiếm 4,7%.

4. Các yếu tố ảnh hưởng và nhu cầu đào tạo giai đoạn 2014 - 2018

  • Kết quả phỏng vấn định tính chỉ ra rằng đội ngũ cán bộ có trình độ trung học chiếm tỷ lệ quá lớn (toàn tỉnh trên 50%), thiếu trầm trọng bác sĩ chuyên khoa sâu và kỹ thuật viên xét nghiệm được đào tạo bài bản, dẫn đến hạn chế trong công tác chỉ đạo tuyến, kiểm tra giám sát và triển khai kỹ thuật cao.
  • Nhu cầu giai đoạn 2014–2018: Cần tuyển dụng bổ sung để đạt định mức tối đa theo TT 08 (đặc biệt bù đắp cho số cán bộ nghỉ hưu); ưu tiên đào tạo chuyển đổi y sỹ thành bác sĩ y học dự phòng, đào tạo đại học y tế công cộng, cử nhân xét nghiệm và đào tạo chuyên khoa cấp I, cấp II theo địa chỉ sử dụng.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả bàn luận sâu sắc về các khía cạnh:

  1. Về quy mô số lượng: Tuyến tỉnh đạt 102% mức tối thiểu nhưng chỉ đạt 85,9% mức tối đa; tuyến huyện đạt 98,6% mức tối thiểu và 82,3% mức tối đa. Do đặc thù địa bàn rộng, mật độ dân cư thưa thớt, nếu không tính hệ số điều chỉnh vùng địa lý (1,2 đối với tỉnh và 1,3 đối với huyện) thì số lượng cán bộ sẽ không thể đảm đương nhiệm vụ giám sát dịch bệnh tại các xã vùng sâu, vùng xa.
  2. Về bất cập trong cơ cấu trình độ: Tỷ lệ bác sĩ toàn tỉnh đạt 19,9% (tuyến tỉnh 24,1% - chưa đạt quy định ≥ 30% của TT 08; tuyến huyện 17,4% - chưa đạt quy định ≥ 20%). Tỷ lệ kỹ thuật viên xét nghiệm toàn tỉnh chỉ đạt 4,4% (tuyến tỉnh 6,4% so với quy định ≥ 20%; tuyến huyện 3,6% so với quy định ≥ 10%). Tỷ lệ y sỹ đa khoa còn quá cao (30,8%), trình độ cử nhân y tế công cộng gần như trống trắng (toàn tỉnh chỉ có 01 người). Hoàn toàn không có Bác sĩ CKII hoặc Tiến sĩ làm việc tại hệ dự phòng.
  3. Về tính khả thi trong kế hoạch đào tạo, tuyển dụng giai đoạn 2014–2018: Bàn luận về tính cấp thiết của việc áp dụng hình thức đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên thông và các chính sách đãi ngộ nhằm thu hút bác sĩ chính quy về công tác tại các trung tâm y tế huyện miền núi cao.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng toàn diện, có hệ thống đầu tiên về số lượng, cơ cấu chuyên môn, trình độ đào tạo của toàn bộ 583 cán bộ y tế dự phòng tại 19 đơn vị thuộc tỉnh Hà Giang năm 2013.
  • Làm rõ khoảng cách giữa thực trạng nhân lực của một tỉnh miền núi phía Bắc so với các định mức chuẩn quốc gia quy định trong Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV.
  • Chỉ rõ hai "điểm nghẽn" lớn nhất trong cơ cấu nhân lực y tế dự phòng Hà Giang: sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ kỹ thuật viên xét nghiệm (chỉ đạt 4,4% so với chuẩn 10–20%) và sự mất cân đối trình độ khi nhân lực trung cấp (chủ yếu là y sỹ đa khoa) chiếm trên một nửa tổng biên chế, thiếu vắng nhân lực trình độ cao (không có BSCKII, không có Tiến sĩ, chỉ có 01 Cử nhân YTCC).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Quy hoạch và tuyển dụng: Sở Y tế và UBND tỉnh Hà Giang cần xây dựng kế hoạch tuyển dụng bổ sung cán bộ y tế dự phòng theo định mức tối đa có tính hệ số điều chỉnh vùng địa lý (1,2 cho tuyến tỉnh và 1,3 cho tuyến huyện theo TT 08).
  2. Ưu tiên đào tạo chuẩn hóa: Tập trung đào tạo nâng chuẩn cho đội ngũ y sỹ đa khoa hiện có thành bác sĩ y học dự phòng; cử cán bộ đi đào tạo cử nhân xét nghiệm, cử nhân y tế công cộng và đào tạo sau đại học (BSCKI, BSCKII, Thạc sĩ).
  3. Đa dạng hóa hình thức đào tạo: Phối hợp với các trường đại học y dược (đặc biệt là Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên và các trường khu vực phía Bắc) triển khai đào tạo theo địa chỉ sử dụng và các khóa tập huấn ngắn hạn về kỹ năng quản lý chương trình, giám sát dịch tễ.
  4. Chính sách đãi ngộ: Xây dựng cơ chế thu hút, hỗ trợ kinh phí đào tạo và phụ cấp đặc thù vùng miền nhằm giữ chân cán bộ có trình độ đại học, sau đại học công tác lâu dài tại các huyện vùng cao, biên giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang tại thời điểm năm 2013, các dữ liệu về yếu tố ảnh hưởng và nhu cầu chủ yếu dựa trên phiếu tự điền và phỏng vấn ý kiến chủ quan của cán bộ, lãnh đạo mà chưa thực hiện đánh giá thực nghiệm năng lực chuyên môn theo bảng kiểm quan sát chuẩn hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành các nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc sau khi áp dụng các đề án đào tạo nhân lực theo địa chỉ; đánh giá hiệu quả hoạt động chuyên môn kỹ thuật gắn với các gói dịch vụ y tế dự phòng tuyến huyện và trạm y tế xã tại các địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp cho Sở Y tế tỉnh Hà Giang, UBND tỉnh Hà Giang và Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Y tế) trong việc xây dựng quy hoạch nhân lực, giao chỉ tiêu biên chế và phân bổ ngân sách đào tạo cho hệ thống y tế dự phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đối với các cơ sở đào tạo y khoa: Là nguồn tài liệu tham khảo thực tế cho Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên và các trường khối ngành sức khỏe trong việc điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo theo địa chỉ phù hợp với nhu cầu của các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Đối với học viên, nghiên cứu sinh: Cung cấp khung phương pháp luận và các biểu mẫu điều tra thực trạng nhân lực y tế tuyến tỉnh/huyện áp dụng Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV phục vụ các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Y tế công cộng và Quản lý y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổng số cán bộ y tế dự phòng của tỉnh Hà Giang năm 2013 là bao nhiêu và phân bố theo các tuyến như thế nào? Tại thời điểm nghiên cứu năm 2013, toàn tỉnh Hà Giang có tổng cộng 583 cán bộ y tế dự phòng. Trong đó, tuyến tỉnh có 220 người (chiếm 37,7%) làm việc tại 08 đơn vị chuyên khoa; tuyến huyện có 363 người (chiếm 62,3%) làm việc tại 11 Trung tâm Y tế huyện/thành phố.

2. Đội ngũ y tế dự phòng tỉnh Hà Giang đáp ứng định mức biên chế theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV ở mức độ nào? So với định mức tối thiểu: Tuyến tỉnh đạt 102,0% (220/216 cán bộ), tuyến huyện đạt 98,6% (363/368 cán bộ - đã tính hệ số điều chỉnh vùng 1,3). Toàn tỉnh đạt 99,8%. So với định mức tối đa: Tuyến tỉnh đạt 85,9% (220/256 cán bộ - tính hệ số 1,2), tuyến huyện chỉ đạt 82,3% (363/441 cán bộ - tính hệ số 1,3). Chưa có trung tâm y tế tuyến huyện nào đạt định mức tối đa.

3. Cơ cấu trình độ chuyên môn của cán bộ y tế dự phòng tỉnh Hà Giang có những đặc điểm nổi bật nào? Trình độ trung học chiếm tỷ lệ cao nhất toàn tỉnh với trên 50% (trong đó y sỹ đa khoa chiếm 30,8% với 180 người). Tỷ lệ bác sĩ toàn tỉnh đạt 19,9% (116 người), trong đó có 52 BSCKI (8,9%), 2 Thạc sĩ (0,3%), không có Bác sĩ CKII và không có Tiến sĩ. Kỹ thuật viên xét nghiệm rất thiếu, chỉ chiếm 4,4% (26 người trình độ trung học, 0 người trình độ cao đẳng/đại học). Cử nhân y tế công cộng toàn tỉnh chỉ có 01 người (0,4%).

4. Nguồn nhân lực y tế dự phòng của Hà Giang chủ yếu được đào tạo từ đâu? Cán bộ y tế dự phòng của tỉnh chủ yếu được đào tạo tại khu vực Đông Bắc, chiếm 45,1% (263 người). Tiếp theo là đào tạo tại chỗ trong tỉnh Hà Giang chiếm 24,9% (145 người), đào tạo tại Hà Nội chiếm 20,1% (117 người) và ngoài khu vực Đông Bắc chiếm 9,9% (58 người).

5. Những đơn vị nào tại tuyến tỉnh và tuyến huyện chưa đạt định mức biên chế tối thiểu theo TT 08? Ở tuyến tỉnh có 3 đơn vị chưa đạt định mức tối thiểu: TT Y tế dự phòng tỉnh (91,0%), TT Kiểm nghiệm thuốc - MP - TP (92,0%), TT Phòng chống bệnh xã hội (87,5%). Ở tuyến huyện có 3 đơn vị chưa đạt định mức tối thiểu: TTYT huyện Vị Xuyên (82,5%), TTYT huyện Xín Mần (90,6%), TTYT Thành phố Hà Giang (84,4%).

Kết luận

Luận án Bác sĩ Chuyên khoa II của tác giả Nguyễn Bá Văn đã phản ánh bức tranh toàn diện về nguồn nhân lực y tế dự phòng tỉnh Hà Giang năm 2013 với quy mô 583 cán bộ trên 19 đơn vị tuyến tỉnh và huyện. Mặc dù số lượng cán bộ tiệm cận định mức tối thiểu của Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV (đạt 99,8%), nhưng hệ thống vẫn chưa đáp ứng định mức tối đa theo đặc thù miền núi (chỉ đạt 83,6%) và tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu khi trình độ trung cấp chiếm đa số, thiếu hụt lớn bác sĩ chuyên khoa và kỹ thuật viên xét nghiệm. Các kết quả và đề xuất trong luận án là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo theo địa chỉ, tuyển dụng và hoàn thiện chính sách phát triển mạng lưới y tế dự phòng tại địa bàn miền núi khó khăn.