ĐẶT VẤN ĐỀ Dự phòng tích cực và chủ động là quan điểm xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển của nền y tế Việt Nam. Quan điểm dự phòng tích cực phải được nhận thức sâu sắc và vận dụng trong việc tạo ra lối sống lành mạnh và văn minh, đảm bảo môi trường sống, lao động và học tập có lợi cho việc phòng bệnh và tăng cường sức khoẻ Việt nam đã và đang thực hiện đường lối y học dự phòng tích cực và chủ động [7], [24]. Trong những thập kỷ qua, việc đầu tư cho lĩnh vực y tế dự phòng đã mang lại hiệu quả thiết thực, thể hiện trong việc Việt Nam đã chính thức thanh toán được bệnh bại liệt, uốn ván sơ sinh, tỷ lệ tiêm chủng mở rộng 6 bệnh truyền nhiễm đạt hơn 90% hàng năm [1], [3]. Đồng thời cũng thể hiện trong việc đẩy lùi các dịch bệnh như SARS, cúm A (H5N1), kiểm soát kịp thời, xử lý các bệnh lây nhiễm từ gia súc như: lở mồm long móng, bệnh dại [8].
Ngành y tế Việt Nam đã kiên trì tuyên truyền, vận động và cùng toàn dân triển khai nhiều biện pháp đảm bảo môi trường sống, chủ động tiêm chủng phòng bệnh, giám sát phát hiện sớm, xử lý kịp thời, có hiệu quả các bệnh dịch góp phần quan trọng khống chế, tiến tới thanh toán bệnh truyền nhiễm gây dịch, bảo vệ sức khỏe nhân dân [9]. Quyết định 255/2006/QĐ-TTg ngày 09/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020: 100% các tỉnh có quyết định thành lập Trung tâm y tế dự phòng huyện; 50% các Trung tâm y tế dự phòng huyện được xây mới và có mô hình tổ chức ổn định, thống nhất, phù hợp với thực tế và yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn tại tỉnh/thành phố; 50% Trung tâm y tế dự phòng huyện được trang bị đủ các trang thiết bị thiết yếu đảm bảo nhiệm vụ được giao; 50% lãnh đạo, 30% cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng huyện có trình độ đại học và trên đại học; 100% cán bộ Trung tâm y tế dự phòng huyện được tập huấn chuyên môn để đáp ứng nhiệm vụ được giao [25]. Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT/BYT-BNV ban hành 05/06/2007, đã hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế dự phòng đối với các trung tâm hệ dự phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các trung tâm y tế dự phòng quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh [12]. 2 Bên cạnh những mặt tích cực đạt được từ sự thay đổi trong tình hình mới, hệ thống y tế dự phòng Việt nam cũng gặp rất nhiều khó khăn trong khi triển khai các mặt hoạt động, đặc biệt là y tế dự phòng tuyến quận/huyện.
Nhận định cho thấy rằng các Trung tâm y tế dự phòng quận/huyện có đội ngũ cán bộ vừa thiếu về số lượng và được đào tạo chuyên khoa về lĩnh vực này còn rất hạn chế [11]. Hà Giang là một tỉnh miền núi vùng cao phía Bắc, có diện tích tự nhiên là 7. Tỉnh có 10 huyện và 01 Thành phố với 195 xã, phường, thị trấn và 2.067 thôn bản, trong đó có 126 xã là các xã đặc biệt khó khăn. Hệ thống giao thông còn gặp nhiều khó khăn.
Địa hình dễ bị chia cắt vào mùa mưa lũ, đặc biệt các xã vùng sâu vùng xa. Dân số 769 074 nhân khẩu, mật độ 2 dân số 95 người/km. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới ước khoảng 35,38 %, thu nhập bình quân đầu người khoảng 9,6 triệu đồng/người/năm [29]. Do điều kiện địa lý khó khăn, hiểm trở, mật độ dân cư thưa nên tỉnh Hà Giang là khu vực có điều kiện tiếp cận đến dịch vụ y tế rất khó khăn.
Với đặc điểm như vậy vai trò các cán bộ y tế dự phòng của tỉnh Hà Giang trở nên rất quan trọng trong việc tiếp cận và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Hiện nay tại tỉnh Hà Giang chưa có nghiên cứu đánh giá tổng thể về nhân lực của các cơ sở y tế dự phòng của tỉnh. Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần cải thiện và từng bước nâng cao chất lượng hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân, việc nâng cao số lượng cũng như chất lượng của cán bộ làm việc tại các trung tâm y tế là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về thực trạng cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, cơ cấu và trình độ của đối tượng này.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Thực trạng nguồn nhân lực y tế dự phòng tỉnh Hà Giang” với các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Đánh giá thực trạng số lượng, trình độ và cơ cấu nhân lực tại các cơ sở y tế dự phòng của tỉnh Hà Giang năm 2013 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, cơ cấu và trình độ cán bộ của các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Hà Giang. Xác định nhu cầu nhân lực tại các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2018.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về quản lý nhân lực và y tế dự phòng 1. Khái niệm nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đưa ra khái niệm: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế.
Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y.); Kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [47], [67]. Khái niệm về quản lý Quản lý được áp dụng từ thời kỳ sơ khai của cuộc sống cộng đồng. Từ sau năm 30 của thế kỷ 20, quản lý mang tính khoa học. Tuy vậy cho đến nay vẫn không có một định nghĩa thống nhất.
Có rất nhiều định nghĩa về quản lý [56]. - Quản lý là làm cho mọi việc được thực hiện; - Quản lý là làm việc thông qua mọi người; - Quản lý là sử dụng hiệu quả các nguồn lực; - Quản lý là làm cho mọi người cùng làm việc hăng hái với nhau, sử dụng hiệu quả nguồn lực để đạt được mục tiêu; - Quản lý là ra quyết định; - “Quản lý làm cho mọi việc được thực hiện, được quản lý và làm việc thông qua mọi người, quản lý là sử dụng hiệu quả các nguồn lực…” đồng thời cần phải chú ý đến các yếu tố khác như thời gian và các thông tin [54]. Quản lý nhân lực y tế Ngành Y tế Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ phải làm tốt công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân, đó là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, gian khổ song cũng rất vinh quang. Nhiệm vụ chính trị của Ngành cũng chính là nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan y tế từ trung ương đến cơ sở [4].
Quản lý là một ngành khoa học thuộc phạm trù khoa học xã hội, cung cấp cho cán bộ phụ trách các cấp những kiến thức tối thiểu để sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong đó có nguồn nhân lực để đạt được mục tiêu kế hoạch đề ra [5]. Quản lý nhân lực là một trong 5 quản lý của ngành y tế đó là quản lý kế hoạch, quản lý cơ sở vật chất, quản lý tài chính, quản lý nhân lực và quản lý khoa học kỹ thuật [58]. Nội dung quản lý nào cũng rất quan trọng, phức tạp và gặp không ít khó khăn nhưng có lẽ quản lý nhân lực là quan trọng nhất cũng như phức tạp nhất và khó khăn nhất, vì: “Con người là nguồn tài nguyên quý báu nhất, quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, cũng là một trong những niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người, mỗi gia đình” [19] và “Cán bộ là nhân tố quyết định mọi thành công trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước”. Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước và coi cán bộ, công chức là lực lượng then chốt để bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [26].
Phân biệt Y tế dự phòng với Y tế công cộng 1. Y tế dự phòng Y học tế phòng (YTDP) là cầu nối giữa y học và y tế công cộng (YTCC). Trong khi y học quan tâm đến chẩn đoán và điều trị bệnh cho một 5 cá thể thì y tế công cộng quan tâm nhiều hơn đến phòng bệnh và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng. Mục tiêu hàng đầu của Y tế dự phòng là nâng cao sức khỏe của cá nhân, gia đình và cả cộng đồng [18].
Vì qui mô của các bệnh mà nước ta đang đối phó rất lớn. Nhu cầu tăng cường cơ sở vật chất y tế hiện đại là cần thiết, nhưng một nhu cầu khác lâu dài hơn và quan trọng hơn là xây dựng một mạng lưới y tế cộng đồng hay y tế dự phòng [6]. Tại sao cần phải xây dựng mạng lưới y tế dự phòng? Là vì chúng ta muốn phòng bệnh hơn chữa bệnh. Các thiết bị hiện đại là để chữa bệnh chứ không phòng bệnh; các biện pháp phòng bệnh cần một quan điểm mới về y tế.
Quan điểm của y khoa truyền thống thường quan tâm đến việc đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân. Tư duy này hun đúc thành những qui định về y đức như có trách nhiệm với cá nhân người bệnh và các cơ sở vật chất y tế thường được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của người bệnh. Ngay cả nghiên cứu y khoa cũng chịu ảnh hưởng bởi tư duy này, vì một nghiên cứu y khoa cổ điển thường bắt đầu với câu hỏi “tại sao bệnh nhân mắc bệnh” [56]. Ngày nay, chúng ta biết rằng nếu hệ thống y tế chỉ để đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân thì vẫn chưa đủ.
Do đó, quan điểm y khoa truyền thống này đã được triển khai thành một bước cao hơn và qui mô hơn: Đó là phòng bệnh và nhận dạng những nhóm người có nguy cơ mắc bệnh cao. Nói cách khác, đây chính là quan điểm về y tế dự phòng [39].