Tổng quan nghiên cứu
Hệ thống y tế dự phòng đóng vai trò như lá chắn tiên phong trong việc kiểm soát dịch bệnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Tại Việt Nam, công tác y tế dự phòng đã đạt nhiều thành tựu nổi bật như duy trì tỷ lệ tiêm chủng mở rộng đạt trên 90% liên tục qua nhiều năm, thanh toán bệnh bại liệt và khống chế thành công các đợt bùng phát dịch SARS cũng như cúm A (H5N1). Tuy nhiên, mạng lưới y tế dự phòng tại các địa phương đang đối mặt với bài toán nan giải về nguồn nhân lực. Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,7 km² với quy mô dân số vượt mức 1,1 triệu người phân bố tại 8 đơn vị hành chính cấp huyện và 126 xã, phường, thị trấn. Cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh và mật độ dân số cao, nhu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân tại Bắc Ninh đặt ra thách thức rất lớn cho mạng lưới y tế cơ sở.
Nghiên cứu "Thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực tại các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh" do tác giả Nguyễn Chí Hành thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đàm Thị Tuyết tại Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên nhằm giải quyết bài toán cốt lõi về tổ chức nhân sự. Mục tiêu của đề tài là đánh giá toàn diện số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế dự phòng toàn tỉnh năm 2014; phân tích các yếu tố tác động đến nguồn lực; đồng thời lượng hóa nhu cầu nhân lực giai đoạn 2016 - 2020 dựa trên định biên tiêu chuẩn. Đề tài mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống bằng chứng khoa học phục vụ công tác quy hoạch nhân lực y tế, hỗ trợ Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh đạt mục tiêu chuẩn hóa mạng lưới y tế dự phòng theo Quyết định 153/2006/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết quản lý nguồn nhân lực y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2006) và mô hình động lực làm việc của Willis-Shattuck cùng các cộng sự (2008). Mô hình này xác định 7 nhóm yếu tố cốt lõi tác động đến việc duy trì và phát triển nhân lực y tế gồm: thu nhập và phụ cấp, cơ hội phát triển nghề nghiệp, hoạt động đào tạo liên tục, điều kiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị làm việc, mối quan hệ quản lý lãnh đạo, và sự ghi nhận từ xã hội. Bên cạnh đó, đề tài vận dụng nguyên lý y học dự phòng tích cực, phân định rõ ranh giới giữa can thiệp lâm sàng cá thể với các giải pháp y tế công cộng hướng đến quần thể nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ phơi nhiễm dịch bệnh.
Nghiên cứu áp dụng các khái niệm chuẩn tắc về nhân lực y tế theo định nghĩa của WHO, các chỉ số phát triển mạng lưới y tế cơ sở và khung tiêu chuẩn định mức biên chế sự nghiệp y tế quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Theo đó, quy chuẩn định mức cơ cấu bộ phận tại các đơn vị y tế dự phòng bao gồm: bộ phận chuyên môn chiếm từ 60% đến 65%, bộ phận xét nghiệm chiếm tối thiểu 20%, và bộ phận hành chính quản trị chiếm từ 15% đến 20%. Về mặt trình độ, tuyến tỉnh yêu cầu tỷ lệ bác sĩ đạt tối thiểu 30% và kỹ thuật viên xét nghiệm đạt tối thiểu 20%; tuyến huyện yêu cầu tỷ lệ bác sĩ đạt từ 20% trở lên và kỹ thuật viên xét nghiệm đạt tối thiểu 10%.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính. Đối tượng nghiên cứu bao gồm toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang làm việc tại các đơn vị y tế dự phòng tuyến tỉnh (Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản, Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe, Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Kiểm nghiệm) và 8 Trung tâm Y tế tuyến huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh. Phương pháp chọn mẫu toàn thể được áp dụng với cỡ mẫu điều tra định lượng đạt 100% cán bộ hiện diện (hơn 450 cán bộ y tế) nhằm loại trừ hoàn toàn sai số chọn mẫu, phản ánh bức tranh nhân lực trung thực nhất của toàn tỉnh.
Nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo đơn vị và 8 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm tại các trung tâm y tế huyện để làm rõ nguyên nhân sâu xa của các hạn chế nhân lực. Công cụ thu thập dữ liệu gồm các bộ phiếu điều tra chuẩn hóa (Phiếu số 1, Phiếu số 2) về thông tin nhân khẩu học, trình độ chuyên môn, chức danh nghề nghiệp, nguyện vọng đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng. Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng các phần mềm thống kê y học chuyên dụng. Lý do lựa chọn phân tích thống kê so sánh là nhằm đối chiếu trực tiếp số liệu thực tế tại địa phương với các chỉ số chuẩn quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV và dữ liệu toàn quốc năm 2009 do Cục Y tế Dự phòng công bố. Toàn bộ quá trình thu thập thông tin được thực hiện trong giai đoạn 2014 - 2015, tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Kết quả khảo sát toàn diện hệ thống y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh cho thấy nhiều khoảng trống lớn về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ cán bộ:
- Thiếu hụt biên chế so với định mức quy chuẩn: Tổng số nhân lực y tế dự phòng hiện có chưa đáp ứng đủ định biên theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV. Tuyến tỉnh mới chỉ đạt khoảng 68% so với định mức biên chế tối đa (đã tính hệ số điều chỉnh vùng 1,2), trong khi tuyến huyện chỉ đạt xấp xỉ 58% định mức biên chế tối đa (hệ số điều chỉnh vùng 1,3).
- Cơ cấu trình độ mất cân đối nghiêm trọng giữa các tuyến: Tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp vẫn chiếm ưu thế áp đảo ở tuyến huyện với tỷ lệ 66,8%, trong khi cán bộ có trình độ đại học chỉ đạt 11,5% và trình độ sau đại học chỉ chiếm 3,2%. Tại tuyến tỉnh, trình độ chuyên môn có sự cải thiện hơn với 22,4% đại học và 12,8% sau đại học, tuy nhiên tỷ lệ trung cấp vẫn còn chiếm tới 28,6%.
- Thiếu hụt trầm trọng chức danh bác sĩ và kỹ thuật viên xét nghiệm: Tỷ lệ bác sĩ tại các trung tâm y tế tuyến huyện chỉ đạt 13,2%, cách xa mục tiêu quy định tối thiểu 20%. Tỷ lệ kỹ thuật viên xét nghiệm toàn tỉnh chỉ đạt 3,8%, thấp hơn rất nhiều so với định mức chuẩn 10% ở tuyến huyện và 20% ở tuyến tỉnh.
- Nhu cầu đào tạo nâng cao rất cấp thiết: Khảo sát nguyện vọng cán bộ cho thấy có tới 82,4% cán bộ chuyên môn mong muốn được tham gia các khóa đào tạo lại ngắn hạn và 46,5% có nguyện vọng học nâng cao lên đại học hoặc chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng và Y học dự phòng.
Dữ liệu thực trạng có thể được hệ thống hóa trực quan qua biểu đồ cơ cấu bộ phận toàn tỉnh (chuyên môn chiếm 61,5%, xét nghiệm chiếm 18,2%, hành chính quản trị chiếm 20,3%) và bảng so sánh trình độ chuyên môn giữa tuyến tỉnh và tuyến huyện để thấy rõ sự chênh lệch chất lượng nhân lực giữa hai tuyến.
Thảo luận kết quả
Thực trạng nhân lực y tế dự phòng tại Bắc Ninh có sự tương đồng rõ nét với bức tranh chung của cả nước. Theo số liệu khảo sát của Cục Y tế Dự phòng năm 2009, tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp tại tuyến huyện trên toàn quốc lên tới 71,9% và tỷ lệ bác sĩ chỉ đạt 10,0%. Kết quả này cũng tương thích với nghiên cứu của Võ Văn Thắng (2009) tại tỉnh Long An khi tỷ lệ kỹ thuật viên xét nghiệm tuyến huyện chỉ đạt 3,3%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ cơ chế phân bổ biên chế còn chậm, quy trình tuyển dụng công chức viên chức y tế do ngành Nội vụ chủ trì chưa thực sự bám sát đặc thù y tế địa phương.
Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ nghề nghiệp theo Nghị định 56/2011/NĐ-CP chưa tạo ra động lực tài chính đủ mạnh để thu hút bác sĩ chính quy về công tác tại hệ dự phòng. Tâm lý chung của sinh viên y khoa sau khi tốt nghiệp thường hướng về khối khám chữa bệnh lâm sàng để phát triển tay nghề và gia tăng thu nhập. Tình trạng "chảy máu chất xám" và thiếu hụt bác sĩ dự phòng tạo ra rủi ro lớn cho việc ứng phó với các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cũng như quản lý các bệnh không lây nhiễm đang gia tăng nhanh tại các khu công nghiệp tập trung của tỉnh Bắc Ninh.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu và dự báo nhu cầu giai đoạn 2016 - 2020, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động trọng tâm:
- Tuyển dụng bổ sung đủ số lượng theo định biên chuẩn: Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh cần phân bổ bổ sung từ 180 đến 220 chỉ tiêu biên chế cho hệ thống y tế dự phòng từ nay đến năm 2020. Trong đó, ưu tiên tuyển dụng ngay 45 bác sĩ y học dự phòng, 30 cử nhân y tế công cộng và 35 cử nhân xét nghiệm nhằm nâng tỷ lệ bác sĩ tuyến huyện đạt mốc ≥20% và kỹ thuật viên xét nghiệm đạt ≥10%.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo chuẩn hóa và nâng cao năng lực: Sở Y tế Bắc Ninh chủ động phối hợp với Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên triển khai chương trình đào tạo liên thông cử tuyển từ y sĩ sang bác sĩ chuyên khoa y học dự phòng (mục tiêu đào tạo ít nhất 40 cán bộ); đồng thời cử 100% cán bộ lãnh đạo quản lý các trung tâm y tế huyện tham gia các khóa đào tạo sau đại học (CKI, CKII, Thạc sĩ) về Y tế công cộng và Quản lý y tế trước năm 2020.
- Ban hành chính sách thu hút và đãi ngộ đặc thù địa phương: Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh Bắc Ninh cần ban hành nghị quyết riêng về cơ chế thu hút nhân tài y tế, hỗ trợ kinh phí một lần từ 80 đến 120 triệu đồng đối với bác sĩ chính quy về công tác tại các trung tâm y tế dự phòng huyện; áp dụng mức phụ cấp ưu đãi nghề tối đa 70% theo quy định tại Nghị định 56/2011/NĐ-CP kết hợp phụ cấp độc hại thỏa đáng.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật: Dành tối thiểu 15% đến 20% nguồn ngân sách chi sự nghiệp y tế hàng năm để nâng cấp hệ thống phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp II cho 100% Trung tâm Y tế tuyến huyện, tạo môi trường làm việc chuẩn hóa giúp giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Nhà quản lý y tế và cơ quan hoạch định chính sách địa phương: Lãnh đạo Sở Y tế, Sở Nội vụ và Ủy ban nhân dân tỉnh sử dụng các số liệu dự báo nhu cầu làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu biên chế, xây dựng đề án vị trí việc làm và ban hành các chính sách thu hút nhân lực y tế cơ sở.
- Ban Giám đốc các Trung tâm Y tế dự phòng và Trung tâm Y tế huyện: Tham khảo mô hình phân tích cơ cấu bộ phận và khung nhu cầu đào tạo để tái cấu trúc nhân sự nội bộ, phân công vị trí việc làm chuẩn xác và lập kế hoạch cử cán bộ đi đào tạo lại liên tục hàng năm.
- Các trường đại học và cơ sở đào tạo khối ngành Sức khỏe: Ban giám hiệu và khoa Y tế công cộng tại các trường như Đại học Y - Dược Thái Nguyên, Đại học Y Hà Nội nắm bắt nhu cầu thực tế của địa phương để điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh các ngành Bác sĩ Y học dự phòng, Cử nhân YTCC và Xét nghiệm y học.
- Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu cắt ngang kết hợp định tính - định lượng, kỹ thuật xây dựng bộ công cụ điều tra nhân lực và kinh nghiệm xử lý số liệu định biên trong quản lý y tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu sử dụng văn bản pháp lý nào làm thước đo đánh giá định mức biên chế y tế dự phòng?
Đề tài sử dụng Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV của Liên Bộ Y tế - Bộ Nội vụ làm căn cứ chuẩn. Văn bản quy định rõ định mức biên chế theo quy mô dân số, hệ số điều chỉnh vùng địa lý (Bắc Ninh áp dụng hệ số 1,2 cho tuyến tỉnh và 1,3 cho tuyến huyện), cùng tỷ lệ cơ cấu chuyên môn tối thiểu cho từng tuyến.
2. Điểm nghẽn lớn nhất trong cơ cấu trình độ cán bộ y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh năm 2014 là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối trình độ khi tỷ lệ cán bộ trung cấp y tế chiếm tới 66,8% tại tuyến huyện. Trong khi đó, tỷ lệ bác sĩ chỉ đạt 13,2% và kỹ thuật viên xét nghiệm chỉ đạt 3,8%, thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn quy định, gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực giám sát dịch tễ chuyên sâu.
3. Tại sao hệ thống y tế dự phòng tuyến huyện gặp khó khăn lớn trong việc thu hút bác sĩ chính quy?
Nguyên nhân chủ yếu do chế độ đãi ngộ tài chính chưa thỏa đáng, mức phụ cấp ưu đãi nghề chưa bù đắp được môi trường làm việc độc hại. Thêm vào đó, bác sĩ trẻ thường ưu tiên làm việc tại khối bệnh viện điều trị để phát triển kỹ năng lâm sàng và có cơ hội nâng cao thu nhập cá nhân.
4. Nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh tập trung vào lĩnh vực nào?
Có tới 82,4% cán bộ có nhu cầu đào tạo lại về kỹ năng triển khai hoạt động thực địa, giám sát dịch tễ và an toàn sinh học. Đồng thời, 46,5% cán bộ có nguyện vọng được cử đi học dài hạn nâng chuẩn lên đại học và sau đại học chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng và Xét nghiệm y học.
5. Luận văn ước tính tổng nhu cầu nhân lực cần bổ sung cho Bắc Ninh giai đoạn 2016 - 2020 là bao nhiêu?
Giai đoạn 2016 - 2020, toàn tỉnh Bắc Ninh cần bổ sung khoảng 180 đến 220 cán bộ y tế dự phòng. Trong đó, tuyến huyện cần bổ sung tối thiểu 110 đến 130 người để bù đắp số cán bộ nghỉ hưu theo niên hạn và đáp ứng định biên tối thiểu theo tiêu chuẩn phát triển dân số của tỉnh.
Kết luận
- Bức tranh thực trạng rõ nét: Luận văn đã phác thảo toàn diện thực trạng nhân lực y tế dự phòng tỉnh Bắc Ninh năm 2014 với sự thiếu hụt khoảng 32% biên chế tuyến tỉnh và 42% biên chế tuyến huyện so với mức tối đa quy chuẩn.
- Cơ cấu trình độ bất cập: Tỷ lệ cán bộ trung cấp còn chiếm tỷ trọng quá cao (66,8% ở tuyến huyện), trong khi lực lượng nòng cốt gồm bác sĩ (13,2%) và kỹ thuật viên xét nghiệm (3,8%) thiếu hụt trầm trọng.
- Xác lập hệ thống yếu tố ảnh hưởng: Nghiên cứu chỉ rõ các rào cản chính gồm cơ chế tuyển dụng chậm, chính sách đãi ngộ thu nhập chưa đủ hấp dẫn và trang thiết bị thực địa còn hạn chế.
- Dự báo chính xác nhu cầu 2016 - 2020: Đề tài lượng hóa nhu cầu cần bổ sung từ 180 đến 220 cán bộ chất lượng cao, đồng thời xây dựng lộ trình đào tạo chuyển đổi 40 y sĩ lên bác sĩ chuyên khoa.
- Khuyến nghị chính sách thực tế: Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ từ tuyển dụng, đào tạo, đãi ngộ tài chính đến đầu tư cơ sở hạ tầng phòng xét nghiệm.
Đề tài là công trình nghiên cứu công phu, có ý nghĩa nền tảng đối với sự phát triển của hệ thống y tế công cộng tỉnh Bắc Ninh. Các cấp quản lý cần nhanh chóng chuyển hóa các khuyến nghị của luận văn thành các đề án hành động cụ thể để xây dựng mạng lưới y tế dự phòng vững chắc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.