Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn nhân lực y tế. Nhân lực y tế được coi là một thành phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế. Các lựa chọn của NVYT về sử dụng nguồn lực (như chỉ định xét nghiệm, kê đơn thuốc, hoặc quy định vê danh mục trang thiết bị ở các tuyến.) sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tể.
Khi xây dựng chính sách, nhà hoạch định chính sách thường tập trung vào khâu phát triển nguồn nhân lực, trong khi cần phải quan tâm đến cả tính hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực cả từ khía cạnh Nhà nước lẫn các cơ sở y tê. Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế mà còn tăng cường công bàng trong CSSK và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Các đặc tính và tầm quan trọng của nguồn nhân lực y tế trong việc đảm bảo hiệu quả, chất lượng và sự công bằng trong cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp để sử dụng nguồn nhân lực y tế một cách hiệu quả nhất. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã thể hiện rõ nhân lực y tế cần được quan tâm đặc biệt.
Khái niệm về nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chù yếu vào các hoạt động nham nâng cao sức khoẻ Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y.); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp) [28]. Họ góp phần quan trọng và quyết định việc thực hiện chức năng của hầu hết các hệ thống y tế. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng 5 được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn).
Khi xây dựng và thực hiện các kế hoạch đào tạo, sử dụng, quản lý và phát huy nhân lực y tế, cần đề cập tất cả mọi người thuộc “nhân lực y tế” theo định nghĩa đã nêu trên. Quan niệm về nghề y Hippocrates (460-370, BC) trong lời thề của mình đã nêu lên một số đặc diêm của nghề y, người thầy thuốc khi hành nghề phải “suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết, tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tùy theo khả năng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công. Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nói: ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế.
Đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, từng trải và kinh nghiệm nghề nghiệp mà mọi công việc dù nhỏ tới đâu đều liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc của mỗi gia đình [14]. Từ góc độ của xã hội, người dân và cộng đồng cũng đòi hỏi rất cao đối với những phẩm chất của ngành y tế và những nhân viên y tế. Trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam, đời sống của đa số nhân viên y tế còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù những năm qua, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có những chính sách nâng cao đời sống cho cán bộ y tế.
Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi cán bộ, nhân viên y te phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền” [3], 6 1. Thực trạng nguồn nhân lực y tế tại Việt Nani a. Số lượng cán bộ y tế đã tăng đáng kể.
Theo sổ liệu niên giám thống kê về y tế từ năm 2003 - 2008, tổng số CBYT công tăng dần trong vòng 5 năm trở lại đây, từ 241. số lượng CBYT tăng đều đặn ở tất cả các loại hình. Ở tuyến trung ương, tỉnh, huyện và xã có tổng số 56 208 bác sỹ (bao gồm cả tiến sỹ và thạc sỹ), 49 213 y sỹ, 10 524 dược sỹ đại học, 12 533 dược sỹ trung cấp, 67 081 điều dưỡng, 22 943 hộ sinh, 882 lương y và 15 682 kỹ thuật viên y học (Bảng 1. Cán bộ y tế qua các năm 2003 - 2008 Loại Năm CBYT 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Bác sĩ 47587 48215 50106 52413 54910 56208 Y sĩ 48325 48059 49674 48519 48738 49213 DSĨ ĐH 6266 6360 10669 10700 10270 10524 DSĨ TC 10078 10424 11154 12620 13324 12533 Đ Dưỡng 48157 49534 52115 57003 61158 67081 Hộ sinh 16218 17610 18313 19242 20920 22943 Lương Y 317 293 295 656 677 882 KTV 9637 9763 9954 11317 11940 15682 Khác 64386 64516 67629 70395 71353 64915 Tổng số 241498 244987 259583 271149 280521 299100 — T----'------- ----------------J Nguôn: Niên giám thông kê y tê, 2003-2008 [6].
Nhìn chung các loại CBYT cơ bản đều tăng qua các năm, đặc biệt là bác sỹ, điều dưỡng và hộ sinh. Riêng dược sỹ đại học số lượng vẫn thấp và trong 3 năm qua không tăng mà có năm còn giảm do tuyển sinh ít. Theo thống kê, số lượng lương y trong 3 năm qua có tăng nhưng vẫn còn rất thấp (chưa tới 900 người). Năm 2008, số bác sỹ, số điều dưỡng và số dược sỹ đại học trên 1 vạn dân tương ứng là 6,5; 7,8 và 1,2.
Như vậy, các chỉ số này đã tăng dần trong 5 năm qua (Bảngl. Tuy nhiên, tốc độ tăng của điều dưỡng nhanh hơn so với sổ bác sỹ trên 1 vạn dân. số bác sỹ trên 1 vạn dân có tăng dần, tuy vẫn còn rất thấp, số dược sỹ đại học rất thấp. Sổ lượng một sổ loại cán bộ y tế trên 1 vạn dân, 2003 - 2008 Loại Năm CBYT 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Bác sĩ 5,9 5,9 6,0 6,2 6,5 6,5 Đ Dưỡng 6,0 6,0 6,3 6,8 7,2 7,8 DsĩĐH 0,8 0,8 1,3 1,3 1,2 1,2 Tổng số 29,9 29,9 31,2 32,2 32,9 34,7 CBYT Nguôn: Niên giám thống kê y tế, 2003-2008 [6], Bộ Y tế đã triển khai nhiều giải pháp để phát triển nhân lực y tế, đặc biệt là các vùng khó khăn, như: Đe án đào tạo cử tuyển, đào tạo hợp đồng theo địa chỉ, đào tạo vừa làm vừa học (tại chức cũ), chính sách ưu tiên tuyển sinh ờ miền núi, vùng sâu, vùng xa; mở rộng đào tạo bác sỹ và dược sỹ tập trung 4 năm (chuyên tu cũ); thực hiện Đề án 1816.
Tỷ lệ xã có bác sỹ tăng ở Trung du và miền núi phía Bắc, dù ở Tây Bắc vẫn có tỷ lệ thấp so với các vùng khác. Nhân lực ở một số ngành và khu vực y tế tư nhãn có xu hirớng tăng Ngoài đội ngũ nhân lực do ngành y tế (Bộ Y tế, Sở Y tể, Phòng Y tế) trực tiếp quản lý, một số ngành khác cũng có đội ngũ CBYT (ví dụ Quân đội, Công an, Giao thông vận tải, Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Bưu chính viễn thông. Năm 2008, theo số liệu Bộ Y tế tổng hợp, tổng số CBYT của ngành dân sự khác là 13 895 người, tăng 35% so với năm 2000. Trong cơ cấu cán bộ ngành khác, dược sỹ đại học chiếm 31%, bác sỹ chiếm 15%, điều dưỡng chiếm 29% và y sỹ chiếm 11% [20].
Nguồn nhân lực này đang làm việc ở cơ sở y tế của các ngành, phục vụ CSSK cho cán bộ, nhân viên và người lao động của ngành đó, nhưng đồng thời cũng tham gia KCB và phòng bệnh cho người dân trên khắp các vùng miền đất nước. Y tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong KCB. Số liệu điều tra hộ gia đình 8 cho thấy trong tổng số lượt khám bệnh ngoại trú, có khoảng 1/3 khám tại cơ sở y tế tư nhân và 2% tổng số lượt điều trị nội trú. Tuy nhiên, do chưa cấp chứng chỉ hành nghề và quản lý đội ngũ y tế tư nhân còn hạn chế, nên không có thống kê đầy đủ về nhân lực khu vực tư nhân trong cả nước, số lượng nhân lực y tế tư nhân ngày càng phát triển nhanh cả về sổ lượng lẫn chất lượng.
Ngoài đội ngũ y tế tư nhân đăng ký chính thức thì còn khá nhiều NVYT tư nhân hoạt động không đăng ký và CBYT công lập đương chức có hành nghề ngoài công lập. Đội ngũ y tế ngoài công lập đóng góp rất nhiều trong công việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân, tạo điều kiện cho dân dễ tiếp cận với các dịch vụ y tế và góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện công. Với xu hướng phát triển hiện nay, y tế tư nhân sẽ ngày càng mở rộng, tuy nhiên vẫn tập trung chủ yểu ở khu vực đô thị. Nhu cầu nhân lực cho y tế tư nhân ngày càng lớn, thu hút những NVYT giỏi, nhiều kinh nghiệm từ các cơ sở y tế công lập, kể cả NVYT đã nghỉ hưu và NVYT mới tốt nghiệp.
Trong tương lai do sử dụng nguồn nhân lực khá lớn với trình độ giỏi nên cần xác định trách nhiệm của khu vực y tế ngoài công lập trong việc đào tạo nguồn nhân lực y tế. Phân bo nhân lực y tế còn mất cân đoi giữa các tuyến Số lượng CBYT tập trung nhiều ở tuyến trung ương, tỉnh, chủ yếu ở khu vực thành thị.