ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp đã và đang là căn bệnh có xu hướng tăng nhanh trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp hiện tác động đến gần 1 tỷ người trên khắp thế giới và có thể tăng lên mức 1,5 tỷ người vào năm 2025 [35]. Hiện nay, ở Châu Á, cứ 4 người trưởng thành thì có 1 người bị tăng huyết áp [30]. Tại Việt Nam, nếu năm 1980 cho thấy có khoảng 10% người bệnh tăng huyết áp thì đến năm 2009 con số này đã tăng lên 25% và năm 2015 là trên 40% ở người trưởng thành [16].
Đây cũng là căn bệnh có tỷ lệ gây ra các bệnh lý về tim mạch nhiều nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu hiện nay. Tăng huyết áp được xem như là “kẻ giết người thầm lặng” vì bệnh thường không có triệu chứng, tiến triển theo thời gian và có thể gây ra những biến chứng nặng nề và nguy hiểm. Tỷ lệ tử vong và tàn phế do tăng huyết áp là 20- 30% và biến chứng xuất huyết não lên tới 45-50% [28]. Các biến chứng của tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong các bệnh về tim mạch.
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2013, trên toàn cầu bệnh tim mạch có 17 triệu ca tử vong mỗi năm và hơn một phần ba trong số đó có nguyên nhân là tăng huyết áp [30]. Ở người cao tuổi, tử vong do tăng huyết áp chiếm đến 81% trong tổng số ca tử vong [28]. Trước thực tế này, từ năm 2000, Liên đoàn Tim mạch Thế giới (World Heart Federation – WHF) đã quyết định chọn ngày Chủ nhật cuối cùng của Tháng 9 là “Ngày Tim mạch Thế giới” (World Heart Day) nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng về bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh tăng huyết áp [35]. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về biến chứng của tăng huyết áp cũng đã cho kết quả tương tự và cho thấy tăng huyết áp thực sự là một gánh nặng về kinh tế - tinh thần đối với mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng [9].
Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây suy tim ở người lớn, 46% người bệnh nhồi 2 máu cơ tim cấp được điều trị tại Viện Tim Mạch Việt Nam có liên quan đến tăng huyết áp và hơn 1/3 số người bệnh tai biến mạch máu não điều trị tại Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Bạch Mai có nguyên nhân là tăng huyết áp [26]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy cải thiện kiến thức và thực hành dự phòng các biến chứng do tăng huyết áp cho người bệnh (NB) thông qua can thiệp giáo dục sức khoẻ là một trong các biện pháp có hiệu quả góp phần giảm tỷ lệ các biến chứng do tăng huyết áp [5], [20]. Kiểm soát huyết áp hiệu quả làm giảm 40% nguy cơ đột qụy và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim [29]. Tuy nhiên, từ kết quả của các nghiên cứu có sẵn lại cho thấy tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40% do tăng huyết áp thường đi kèm những yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, ít vận động thể lực… Các yếu tố nguy cơ nếu không được phòng tránh một cách đầy đủ, kết quả lại làm trầm trọng thêm tình trạng tăng huyết áp và các biến chứng của nó [9].
Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Hương Giang tại Ninh Bình (2015), cho thấy tỷ lệ thực hành phòng biến chứng của người bệnh tăng huyết áp chỉ đạt là 28,7% [5]. Nghiên cứu của Đinh Thị Thu (2018), tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Quảng Ninh cũng cho thấy kết quả không cao về tỷ lệ (54,6%) người bệnh tăng huyết áp có kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp [22]. Tính đến thời điểm hiện nay, tại Trung tâm Y tế thị xã Đông Triều, đã có một số nghiên cứu mô tả về tình hình tăng huyết áp được thực hiện nhưng chưa có một nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khoẻ về việc phòng ngừa các biến chứng do tăng huyết áp cho người bệnh được công bố. Với mong muốn đóng góp vào công tác quản lý người bệnh tăng huyết áp, hạn chế các biến chứng do tăng huyết áp gây ra cho người bệnh; góp phần mở rộng và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế tại địa phương.
Tôi tiến hành thực hiện chuyên đề “Thực trạng kiến thức dự phòng biến chứng do tăng huyết áp của 3 người bệnh tại Trung tâm y tế thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh năm 2022” Với 2 mục tiêu như sau: 1. Mô tả thực trạng kiến thức dự phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tại Trung tâm Y tế thị xã Đông Triều,tỉnh Quảng Ninh năm 2022. Đề xuất một số giải pháp để cải thiện kiến thức dự phòng biến chứng do tăng huyết áp của người bệnh tại Trung tâm Y tế thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Định nghĩa tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [30].
Tăng huyết áp (THA) có thể là tăng cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương hoặc chỉ tăng một trong hai chỉ số. Các chỉ số huyết áp 120-139/80- 90mmHg, Theo JNC7 (Joint National Committee 7 - Uỷ ban Quốc gia lần thứ 7 của Hoa Kỳ) được coi là tiền THA, nghĩa là có nguy cơ bị THA thật sự cao gấp 2 lần so với người có huyết áp bình thường là < 120/80mmHg. Tại Việt Nam, theo Bộ Y tế (2010) một người trưởng thành (≥ 18 tuổi) được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg [1].2 Phân độ tăng huyết áp: Hiện nay có 3 phân loại THA thường được sử dụng trên lâm sàng là phân độ theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC - Join National Committee) lần thứ VII năm 2003. Phân độ theo European Society of Hypertension/European Society of Cardiology (ESH/ESC) Hội tăng huyết áp Châu Âu / Hội Tim mạch Châu Âu năm 2007 và phân độ THA theo bộ y tế năm 2010 [1], [14], [35].
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phân độ tăng huyết áp của Bộ Y tế Việt Nam [1]. Phân độ tăng huyết áp của Bộ Y tế Phân độ HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ưu < 120 và < 80 HA bình thường 120 – 129 và/hoặc 80 - 84 Tiền tăng huyết áp 130-139 và/hoặc 85-89 THA độ 1 140-150 và/hoặc 90-99 5 THA độ 2 160-179 và/hoặc 100-109 THA độ 3 ≥180 và/hoặc ≥110 THA tâm thu đơn độc ≥140 và <90 Tiền THA: Kết hợp HA bình thường và HA bình thường cao, nghĩa là HATT từ 120 -139 mmHg và HATTr từ 80-89 mmHg.3 Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp * Ăn mặn Nguy cơ mắc bệnh THA thường hay gặp ở người có thói quen ăn mặn. Muối hiện được coi là một trong những nguy cơ quan trọng của THA. Theo khuyến cáo của WHO, người trưởng thành mỗi ngày chỉ nên sử dụng ít hơn 6g muối (một thìa cà phê).
Thực tế cũng cho thấy người dân ở vùng ven biển có tỷ lệ THA cao hơn so với người dân ở vùng đồng bằng và miền núi [30]. * Hút thuốc lá, thuốc lào Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu về thực trạng bệnh THA và một số yếu tố liên quan đến bệnh THA tại nhà máy nhiệt điện Phả Lại, số người mắc tiền THA, THA độ I và THA độ II ở những người hút thuốc lá cao hơn so với những người không hút thuốc lá (tương ứng 8,5; 13,4 và 5,5% với 6,8; 13,7 và 2,5%) [25]. * Đái tháo đường Ở những người bị đái tháo đường tỷ lệ bị bệnh THA cao gấp đôi so với người không bị đái tháo đường (ĐTĐ). Khi NB có cả bệnh THA và ĐTĐ sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng ở các mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với người bệnh THA đơn thuần.
Vì vậy khi bị ĐTĐ, cần phải điều trị tốt bệnh này để góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo. * Rối loạn Lipid máu Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu. Chúng thường được gọi là các thành phần mỡ của máu hay chính xác hơn là 6 lipid máu. Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể.
Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng chính là yếu tố gây THA. Vì vậy cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Nhóm tăng triglycerid có nguy cơ THA cao gấp 1,34 lần so với nhóm triglyceride bình thường theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoàng và cộng sự trên 948 NCT, nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến huyết áp ở NCT năm 2012 [9]. * Tiền sử gia đình có người bị tăng huyết áp Tiền sử gia đình, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh, chị, em, ruột), có người mắc bệnh THA, béo phì, bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu là nguy cơ cao cho thành viên trong gia đình mắc các bệnh mãn tính trên nói chung và THA nói riêng.
Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị THA càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ để có thể phòng tránh được bệnh THA. * Tuổi, giới, chủng tộc Tuổi càng cao thì tỷ lệ THA càng nhiều do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa, giảm tính đàn hồi, trở nên cứng hơn, làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn, gọi là THA tâm thu đơn thuần. Tuổi càng cao, khả năng đàn hồi của thành mạch càng giảm cộng với huyết áp càng cao tăng dần theo tuổi sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra biến chứng do THA [3], [14]. * Thừa cân, béo phì Trọng lượng của cơ thể con người có mối quan hệ khá tương đồng với bệnh THA.
Có một công thức đơn giản để tính trạng thái thừa cân, đó là tính chỉ số khối cơ thể (BMI). BMI = cân nặng(kg)/{chiều cao(m)}2 Ở người bình thường, chỉ số BMI sẽ giao động trong khoảng 18,5-24,9. 7 Tỷ lệ THA tăng dần theo chỉ số cơ thể Body Mass Index (BMI), BMI càng cao, khả năng bị THA càng nhiều với nguy cơ tương đối càng cao [22].