Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh đái tháo đường 1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [58].2 Chẩn đoán xác định đái tháo đường Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Bộ Y tế và Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2018 [39], dựa vào một trong các tiêu chí: - Glucose huyết tương lúc đói (trước khi làm xét nghiệm ít nhất 08 giờ, bệnh nhân không ăn và không ăn đồ ngọt, không uống nước ngọt): ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L), hoặc: + Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g: ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L), hoặc: + Glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân): ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L), hoặc: HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol).3 Phân loại đái tháo đường Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [57]: - Bệnh đái tháo đường type 1: Chiếm 5-10% của tất cả các trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường. Nguyên nhân do tế bào bêta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể.
Đái tháo đường type 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi. Người bệnh đái tháo đường type 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn. 5 - Bệnh đái tháo đường type 2: Chiếm khoảng 90% của tất cả các trường hợp chẩn đoán của bệnh. Nó thường gắn liền với tình trạng thừa cân và kháng insulin.
Đối với người bệnh đái tháo đường type 2, chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, là nền tảng của việc điều trị. Tuy nhiên, chức năng của tế bào beta tuyến tụy giảm tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin, rất nhiều người bệnh cuối cùng phải điều trị bằng thuốc uống hoặc insulin ngoại sinh. Đặc điểm lớn nhất trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường. - Đái tháo đường thai kỳ: Đái tháo đường được phát hiện khi mang thai và được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về đái tháo đường type 1, type 2 trước đó.
Do bệnh đái tháo đường type 2 chiếm tỷ lệ lớn trong số người bệnh bị đái tháo đường (80-90%) và bệnh đái tháo đường type 2 cũng là bệnh có thể phòng hoặc làm chậm lại sự tiến triển thành bệnh ở những người có nguy cơ cao bị bệnh. Vì vậy, trong nội dung nghiên cứu của luận văn này chỉ nghiên cứu về đái tháo đường type 2. - Đái tháo đường khác do nhiều nguyên nhân khác nhau (hiếm gặp): + Khiếm khuyết gen của tế bào beta. + Rối loạn quá trình chuyển hóa glucose (thể MODY).
+ Đột biến gen ảnh hưởng đến hoạt động của insulin. + Bệnh lý tụy ngoại tiết. + Thuốc, hóa chất… + Nguyên nhân do nhiễm trùng. + Các thể ít gặp của đái tháo đường qua trung gian miễn dịch.
+ Các hội chứng về gen khác.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới Theo khuyến cáo của WHO, năm 2013 trên thế giới có 382 triệu người mắc đái tháo đường, trong đó có tới 46% chưa được chẩn đoán, số người mắc dự đoán tăng lên 592 triệu người vào năm 2035 tương đương số người mắc tăng lên 55%. 6 Cũng theo thống kê này, cứ mỗi 6 giây lại có một người tử vong do bệnh đái tháo đường, trong năm 2013 đã có 5,1 triệu người tử vong vì bệnh đái tháo đường [39]. Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2018: Trên thế giới hiện nay có sấp xỉ 425 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc đái tháo đường, trong đó có 193 triệu người chưa được chẩn đoán.
Hơn 352 triệu người trưởng thành ước tính có dung nạp glucose, đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao phát triển dịch bệnh [39]. Theo WHO năm 2013 số người tử vong do bệnh HIV/AIDS, lao và sốt rét lần lượt là: 1,5 triệu người; 1,5 triệu người và 0,6 triệu người, trong khi đó cuối năm 2015, bệnh đái tháo đường đã gây ra trên 5,0 triệu người tử vong và có chi phí khoảng 673 tỷ USD và đến năm 2017 khoảng 727 tỷ USD. Nếu mức tăng này không dừng lại dự đoán tới năm 2045 có gần 629 triệu người sống chung với bệnh tật [59]. Đáng chú ý, chi phí y tế tiếp tục tăng 12% chi phí y tế toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh đái tháo đường trong đó chiếm đa số là ảnh hưởng tới điều trị các biến chứng [39].
Cũng theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), về số người mắc đái tháo đường năm 2017 và dự đoán số người mắc đái tháo đường đến năm 2045 của các châu lục và một số khu vực trên thế giới như sau [39]: Bảng 1.1: Thống kê của IDF về số người mắc đái tháo đường năm 2017 và dự đoán đến năm 2045 tại các khu vực trên thế giới. Năm 2017 Năm 2045 Châu lục/Khu vực (triệu người) (triệu người) Bắc Mỹ và Vùng biển Caribe 46 62 Nam và Trung Mỹ 26 42 Châu Âu 58 67 Trung Đông và Bắc Phi 39 82 Trung và Nam Phi 16 41 Tây Thái Bình Dương 159 183 Đông Nam Á 82 151 Tổng 426 628 7 Về mức độ phổ biến của bệnh đái tháo đường: Năm 2017 cứ 11 người trưởng thành (20-79 tuổi) thì có 1 người mắc đái tháo đường và tới năm 2045 tỉ lệ này giảm xuống trong 10 người có 1 người mắc đái tháo đường. Bệnh đái tháo đường phân chia theo giới tính: Năm 2017 có 221,0 triệu đàn ông mắc đái tháo đường và ở nữ năm là 203,9 và con số này đến năm 2045 sẽ tăng thêm lần lượt là 9,7% ở phụ nữ và 10,0% ở nam giới. Bệnh đái tháo đường phân bố tại môi trường đô thị và nông thôn: Tại vùng đô thị năm 2017 có 279,2 triệu và vùng nông thôn là 145,7 triệu người mắc, tới năm 2045 thành thị so với nông thôn lần lượt là 10,2% so với 6,9% [39].
Chi phí tài chính cho đái tháo đường: Ngoài việc gây ra gánh nặng tài chính lớn cho các cá nhân và gia đình của họ do sự chi phí của insulin và thuốc thiết yếu khác, bệnh đái tháo đường cũng có một tác động đáng kể tới kinh tế đất nước và hệ thống y tế tại các quốc gia. Điều này là do việc sử dụng gia tăng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm năng suất lao động và thời hạn dài hỗ trợ cần thiết để vượt qua bệnh đái tháo đường và các biến chứng ảnh hưởng, chẳng hạn như suy thận, mù hoặc các vấn đề tim mạch. Đa số các nước dành từ 5% đến 20% tổng chi tiêu y tế của họ cho bệnh đái tháo đường. Với chi phí ngày một cao bệnh này là một thách thức đáng kể cho hệ thống y tế và cản trở phát triển kinh tế bền vững của quốc gia [38].
Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh nhân đái tháo đường cao nhất thế giới với tỷ lệ bệnh nhân tăng 5,5% mỗi năm [3]. Căn bệnh này đã và đang ảnh hưởng tới mọi người và mọi lứa tuổi trong xã hội. Trong khi đó Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia thu nhập trung bình và thấp phải chịu nhiều tác động lớn của căn bệnh đái tháo đường, đặc biệt là tại các thành phố lớn và khu công nghiệp. Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này.
Theo thống kê trong 10 năm của Bệnh viện Nội tiết Trung ương: Số người bệnh mắc đái tháo đường ở nước ta tăng từ 2,7 % dân số năm 2002 lên 5,7 % dân số 8 năm 2012, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng người bệnh đái tháo đường cao nhất trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới. Nghiên cứu tại các địa phương cho thấy, toàn quốc có khoảng 5 triệu người bệnh đái tháo đường, điều đáng nói là cứ 10 ca đái tháo đường thì có 6 ca được chẩn đoán là có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong. Ở Việt Nam, mỗi ngày có khoảng 150 người tử vong do các nguyên nhân ảnh hưởng đến bệnh đái tháo đường, tương đương với 54.943 trường hợp tử vong của người trưởng thành mỗi năm [3]. Bệnh đái tháo đường không được điều trị hoặc điều trị kém làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng tại hầu hết các cơ quan như tim, gan, não, mắt, thận các bệnh lý tại vi mạch máu cũng như ở các mạch máu lớn…và có thể dẫn tới tử vong sớm.
Người bị bệnh đái tháo đường có nguy cơ tử vong sớm cao hơn gần gấp 2 lần so với những người không bị bệnh đái tháo đường [57]. Theo các chuyên gia y tế, chính thói quen sinh hoạt không khoa học như: Thói quen dùng thức ăn nhanh, thức ăn giàu năng lượng, ăn nhiều chất béo, ăn ít rau, uống nhiều nước ngọt, bia rượu, người sống tĩnh tại, … đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh đái tháo đường ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu [26]. Vì vậy vấn đề tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường nhất là tuân thủ về chế độ ăn uống người bệnh đái tháo đường type 2 cần được quan tâm hơn bao giờ hết [22], [35]. Tự chăm sóc về ăn uống ở người bệnh đái tháo đường type 2 Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có định nghĩa khác nhau.
Trong số các định nghĩa, định nghĩa của Orem là nhất quán hơn. Orem lập luận rằng, tự chăm sóc là một hoạt động cá nhân để chăm sóc, duy trì sức khỏe của chính họ và phòng ngừa biến chứng bệnh liên quan đến bệnh.