Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý mạn tính không lây nhiễm có xu hướng gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, trở thành thách thức lớn đối với hệ thống y tế công cộng. Theo số liệu của Liên đoàn Đái Tháo Đường Thế giới (IDF), toàn cầu có khoảng 463 triệu người trưởng thành (20–79 tuổi) mắc bệnh vào năm 2019 và căn bệnh này gây ra hơn 4 triệu ca tử vong trong cùng năm. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp ĐTĐ vào nhóm 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu năm 2020. Tại Việt Nam, Hội Nội tiết và Đái tháo đường thống kê có khoảng 3,53 triệu người mắc bệnh, trung bình mỗi ngày có ít nhất 80 ca tử vong do các biến chứng liên quan, dự báo con số người mắc có thể chạm mức 6,3 triệu người vào năm 2045. Chi phí điều trị các biến chứng của bệnh chiếm tới 3–6% ngân sách y tế hàng năm.

ĐTĐ type 2 chiếm từ 85% đến 95% tổng số ca mắc ĐTĐ và không thể chữa khỏi hoàn toàn. Mặc dù vậy, theo khuyến cáo của Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) và Hội Nghiên cứu Đái tháo đường Châu Âu (EASD), việc kiểm soát tốt đường huyết và ngăn ngừa biến chứng phụ thuộc chặt chẽ vào các biện pháp điều trị không dùng thuốc, bao gồm dinh dưỡng, vận động thể lực và nâng cao tính tự giác tuân thủ phác đồ điều trị của người bệnh. Do đó, công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe (GDSK) của nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng viên, giữ vị trí quyết định trong việc thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi tự chăm sóc của người bệnh.

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Nội người lớn tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định của tác giả Chu Thị Tân (năm 2022), dưới sự hướng dẫn của ThS. Đỗ Thị Thu Hiền, được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
  2. Đề xuất một số giải pháp để tăng cường hiệu quả công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.

Nghiên cứu được triển khai trên đối tượng là 100 người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ type 2 đang điều trị nội trú tại Khoa Tim mạch và Rối loạn chuyển hóa thuộc Bệnh viện Nội tiết Trung ương trong khoảng thời gian từ tháng 05/2022 đến tháng 08/2022 (thu thập số liệu từ tháng 05/2022 đến tháng 07/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu thiết lập cơ sở lý luận dựa trên các quy định y tế hiện hành và hướng dẫn chuyên môn:

  • Khung pháp lý và chuyên môn: Thông tư số 31/2021/TT-BYT ngày 28/12/2021 của Bộ Y tế quy định hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện, trong đó Điều 6 xác định nhiệm vụ can thiệp chăm sóc bao gồm truyền thông, giáo dục sức khỏe; Quyết định 5481/QĐ-BYT ngày 30/12/2020 của Bộ Y tế về tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2; Định nghĩa và nguyên lý GDSK của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
  • Mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:

$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$

Trong đó, $\alpha = 0{,}05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$), sai số cho phép $d = 0{,}05$, tỷ lệ ước lượng $p = 0{,}93$ (tham khảo từ nghiên cứu của Trần Thị Loan năm 2020 tại Bệnh viện C Thái Nguyên). Kết quả tính toán cho ra cỡ mẫu $n = 100$. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để lấy 100 người bệnh đủ tiêu chuẩn từ tổng số 108 người bệnh ĐTĐ type 2 nhập viện điều trị tại khoa trong thời gian nghiên cứu.

  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh được chẩn đoán ĐTĐ type 2 điều trị nội trú tại khoa, có khả năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt) và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: người bệnh không đồng ý tham gia.
  • Phương pháp thu thập và công cụ đo lường: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc phỏng vấn trực tiếp người bệnh tại thời điểm trước khi xuất viện 01 ngày. Bộ công cụ gồm:
    • Phần I: 5 câu hỏi thông tin nhân khẩu học và bệnh sử.
    • Phần II: 10 câu hỏi đánh giá thực trạng GDSK của điều dưỡng. Các nội dung chuyên môn đánh giá qua 3 mức độ: (1) Thực hiện tốt/đầy đủ (1 điểm), (2) Thực hiện chưa tốt/chưa đầy đủ (0 điểm), (3) Không thực hiện (0 điểm). Thang điểm tối đa là 10 điểm; quy chuẩn đánh giá: tổng điểm $\ge 7$ điểm là Đạt, $< 7$ điểm là Chưa đạt.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu được nhập, làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0, sử dụng các thuật toán thống kê mô tả (tần số và tỷ lệ phần trăm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các kiến thức y học và điều dưỡng liên quan đến ĐTĐ type 2 và công tác GDSK:

  • Bệnh học ĐTĐ type 2: Phân tích cơ chế bệnh sinh xuất phát từ đề kháng insulin và suy giảm tiết insulin; tổng hợp các yếu tố nguy cơ (tuổi tác, tiền sử gia đình, chủng tộc, lối sống tĩnh tại, dinh dưỡng bất hợp lý, tiền sử sinh con $>4\text{ kg}$, tiền sử giảm dung nạp glucose, tăng huyết áp, béo phì) và các biến chứng mạn tính mạch máu lớn, mạch máu nhỏ (tim mạch, thận, thần kinh ngoại biên, võng mạc mắt, loét bàn chân).
  • Nguyên tắc điều trị và chăm sóc: Trình bày chi tiết phác đồ can thiệp lối sống. Chế độ dinh dưỡng quy định tỷ lệ phân bố năng lượng gồm Glucid (50–60%, tối thiểu $130\text{ g/ngày}$), Lipid (20–25%, chất béo bão hòa $<10%$, Cholesterol $<300\text{ mg/ngày}$), Protein ($15\text{–}20%$, tương đương $1\text{–}1{,}2\text{ g/kg/ngày}$ cho người không có protein niệu và $0{,}8\text{ g/kg/ngày}$ cho người có biến chứng thận), lượng muối $<5\text{ g/ngày}$ ($2000\text{ mg Na/ngày}$) và chất xơ ($20\text{–}30\text{ g/ngày}$). Hoạt động thể lực được khuyến cáo tối thiểu 150 phút/tuần (hoặc 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần), kết hợp bài tập kháng lực 2–3 lần/tuần.
  • Lý luận GDSK và vai trò điều dưỡng: Khái quát các phương tiện truyền thông (lời nói, cử chỉ, trực quan, tài liệu in ấn, nghe nhìn) và phương pháp truyền thông trực tiếp, gián tiếp; làm rõ chức năng của điều dưỡng theo Thông tư 31/2021/TT-BYT.
  • Tổng quan nghiên cứu: Điểm luận các công trình quốc tế (nghiên cứu của Viral.S tại Ấn Độ; Abate Y.M và Teshome G tại Ethiopia về chất lượng chăm sóc và tỷ lệ GDSK của điều dưỡng dao động từ 31,8% đến 33,3%) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Trần Thị Loan, Đinh Minh Thảo, Trương Quyết Tiến, Lưu Thị Thanh Tâm, Bùi Thị Bích Ngà, Trần Ngọc Trung).

Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết

Chương 2 trình bày tổng quan về Bệnh viện Nội tiết Trung ương (thành lập năm 1969, quy mô hiện tại hơn 1000 giường thực kê, tiếp nhận khám 2000–2600 người bệnh ngoại trú/ngày) và Khoa Tim mạch và Rối loạn chuyển hóa (thành lập năm 2010, nhân lực 19 cán bộ gồm 5 bác sĩ, 11 điều dưỡng và 1 hộ lý, quản lý trung bình 45 người bệnh nội trú/ngày).

Chương này mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu và công bố kết quả khảo sát thực trạng trên 100 người bệnh ĐTĐ type 2:

  • Đặc điểm mẫu khảo sát: Tỷ lệ nữ giới chiếm 57%, nam giới 43%; nhóm tuổi 40–60 chiếm đa số (55%), nhóm trên 60 tuổi chiếm 21%, nhóm 20–40 tuổi chiếm 17%, dưới 20 tuổi chiếm 7%. Về nghề nghiệp, viên chức chiếm 45%, nông dân 33%, công nhân 16%, nghề khác 6%. Về học vấn, trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học chiếm 56%, trung học phổ thông chiếm 39%, THCS chiếm 3%, tiểu học chiếm 2%. Về thời gian mắc bệnh, 52% người bệnh có thời gian mắc trên 5 năm, 32% từ 1–5 năm và 16% dưới 1 năm.
  • Thực trạng GDSK qua đánh giá của người bệnh:
    • Về thời điểm thực hiện: 40% người bệnh được tư vấn ở cả 2 thời điểm (trong khi nằm viện và trước khi ra viện), 37% chỉ được tư vấn trước khi ra viện và 23% chỉ được tư vấn trong thời gian nằm viện.
    • Về nội dung chuyên môn: Điều dưỡng thực hiện tốt việc tư vấn dùng thuốc (93%), tư vấn dinh dưỡng (91%), tư vấn biến chứng (89%), tư vấn tái khám định kỳ (87%), tư vấn vận động (85%), tư vấn yếu tố nguy cơ (79%), tư vấn theo dõi phát hiện biến chứng (82%) và tư vấn triệu chứng bệnh (70%).
    • Đánh giá chung: 83% người bệnh đánh giá công tác GDSK của điều dưỡng ở mức Đạt ($\ge 7$ điểm) và 17% đánh giá Chưa đạt.

Chương 3: Bàn luận

Tác giả so sánh, đối chiếu kết quả khảo sát với các nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Phân tích cơ cấu nhân khẩu học: Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao (57%) và độ tuổi 40–60 (55%) tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Loan (2020) và nghiên cứu dịch tễ học của Phan Hướng Dương (2012). Tỷ lệ học vấn cao (95% từ THPT trở lên) là yếu tố thuận lợi lớn cho việc tiếp thu thông tin y tế, trái ngược với bối cảnh tỷ lệ mù chữ cao tại Ấn Độ trong nghiên cứu của Viral.S (2015).
  • Phân tích thực trạng GDSK: Khẳng định tỷ lệ tư vấn dùng thuốc (93%) và dinh dưỡng (91%) đạt mức cao, tương đương với các nghiên cứu của Trần Thị Loan (94,4% và 91,1%). Tuy nhiên, các mảng tư vấn về vận động thể lực (85%), triệu chứng bệnh (70%) và nhận biết dấu hiệu biến chứng (82%) vẫn còn khoảng trống nhất định.
  • Nhận diện ưu điểm, hạn chế và phân tích nguyên nhân:
    • Ưu điểm: Đa số người bệnh được tiếp cận thông tin; bệnh viện đã thành lập Tổ công tác xã hội và Phòng Điều dưỡng có xây dựng kế hoạch phân loại GDSK theo nhóm bệnh nhân.
    • Hạn chế: Việc tư vấn lồng ghép chưa sâu; thiếu hồ sơ ghi chép chứng minh trên phiếu chăm sóc; một bộ phận điều dưỡng trẻ còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp.
    • Nguyên nhân: Tỷ lệ điều dưỡng trực tiếp chăm sóc còn thấp (trung bình 8 điều dưỡng chăm sóc 45 người bệnh/ngày); gánh nặng thủ tục hành chính; điều dưỡng còn thiếu tính tự chủ và phụ thuộc y lệnh; chưa có phòng truyền thông GDSK chuyên biệt tại khoa; công tác đào tạo tập huấn và giám sát chuyên đề chưa thường xuyên.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng tổng hợp

Nghiên cứu đã thu thập và xử lý các chỉ số thống kê cụ thể về công tác GDSK của điều dưỡng đối với 100 người bệnh ĐTĐ type 2:

Nội dung khảo sát GDSK Thực hiện tốt / đầy đủ (%) Thực hiện chưa tốt / chưa đầy đủ (%) Không thực hiện (%)
Tư vấn chế độ sử dụng thuốc 93% 5% 2%
Tư vấn, hướng dẫn chế độ dinh dưỡng 91% 8% 1%
Tư vấn các biến chứng của bệnh 89% 10% 1%
Tư vấn về tái khám định kỳ 87% 11% 2%
Tư vấn, hướng dẫn chế độ vận động 85% 9% 6%
Tư vấn theo dõi phát hiện biến chứng 82% 12% 6%
Tư vấn yếu tố nguy cơ gây bệnh 79% 19% 2%
Tư vấn các triệu chứng của bệnh 70% 25% 5%

Giải pháp và khuyến nghị đề xuất

Dựa trên các nguyên nhân tồn tại, báo cáo chuyên đề đề xuất hệ thống giải pháp chia thành hai nhóm đối tượng:

  1. Đối với nhà quản lý và bệnh viện/khoa phòng:

    • Xây dựng phòng truyền thông GDSK riêng biệt tại từng khoa lâm sàng, trang bị đầy đủ bàn ghế, ti vi, áp phích và tờ rơi hướng dẫn chuyên biệt về ĐTĐ.
    • Chuẩn hóa và ban hành quy trình tư vấn GDSK cho cá nhân người bệnh và nhóm người bệnh ĐTĐ type 2.
    • Tổ chức các lớp đào tạo liên tục, tập huấn nâng cao kỹ năng truyền thông, lắng nghe, thuyết phục và giao tiếp ứng xử cho điều dưỡng viên.
    • Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoạt động GDSK tại các khoa; đưa nội dung tư vấn vào phiếu chăm sóc bệnh án.
    • Thiết lập cơ chế thi đua, khen thưởng điều dưỡng làm tốt và nhắc nhở các trường hợp chưa đạt; điều chuyển nhân lực hợp lý nhằm giảm tải áp lực hành chính để điều dưỡng có thời gian chăm sóc trực tiếp.
    • Cải thiện chính sách, chế độ đãi ngộ nhằm nâng cao chất lượng đời sống cho đội ngũ điều dưỡng.
  2. Đối với cá nhân điều dưỡng viên:

    • Nâng cao nhận thức về vai trò độc lập và trách nhiệm thường quy của công tác truyền thông GDSK trong chăm sóc người bệnh.
    • Chủ động tự học, cập nhật kiến thức chuyên sâu về cơ chế, biến chứng, dinh dưỡng và điều trị ĐTĐ type 2.
    • Rèn luyện kỹ năng giao tiếp, phương pháp đặt câu hỏi mở và kỹ năng giải thích ngắn gọn, dễ hiểu.
    • Sắp xếp thời gian làm việc khoa học, lồng ghép tư vấn hiệu quả trong quá trình thực hiện quy trình kỹ thuật; tích cực tham gia nghiên cứu khoa học lâm sàng.

Đóng góp của đề tài

Đây là công trình nghiên cứu chuyên đề đầu tiên đánh giá một cách định lượng và có hệ thống về thực trạng công tác GDSK của điều dưỡng cho người bệnh ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Kết quả phản ánh trung thực mức độ đáp ứng của điều dưỡng viên so với yêu cầu chuẩn hóa tại Thông tư 31/2021/TT-BYT, cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn giúp lãnh đạo bệnh viện và Phòng Điều dưỡng hoạch định chính sách nâng cao chất lượng chăm sóc nội trú.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện với thiết kế mô tả cắt ngang trên cỡ mẫu thuận tiện $n = 100$ tại một đơn vị lâm sàng duy nhất (Khoa Tim mạch và Rối loạn chuyển hóa), do đó tính đại diện cho toàn bộ các khoa điều trị khác trong bệnh viện chưa cao. Phương pháp thu thập qua phỏng vấn hồi cứu người bệnh trước khi xuất viện 01 ngày có thể chịu ảnh hưởng bởi sai số nhớ lại hoặc tâm lý e ngại khi đánh giá nhân viên y tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn thể các khoa lâm sàng trong Bệnh viện Nội tiết Trung ương với cỡ mẫu lớn hơn; triển khai các nghiên cứu can thiệp đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình GDSK chuẩn hóa đối với việc cải thiện chỉ số sinh hóa (như HbA1c, glucose máu) và tỷ lệ tái nhập viện của người bệnh sau xuất viện.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng trong ngành y tế và điều dưỡng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Điều dưỡng: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực trạng chăm sóc lâm sàng, phương pháp xây dựng bộ công cụ phỏng vấn và tiêu chuẩn đánh giá thang điểm GDSK.
  • Điều dưỡng trưởng và nhà quản lý bệnh viện: Ứng dụng mô hình đánh giá và hệ thống giải pháp đề xuất để xây dựng phòng truyền thông, hoàn thiện quy trình tư vấn và thiết lập bảng kiểm giám sát hoạt động GDSK theo Thông tư 31/2021/TT-BYT.
  • Điều dưỡng viên lâm sàng khoa Nội tiết - Tim mạch: Sử dụng các thông tin tổng hợp về nhu cầu thông tin, tỷ lệ tiếp nhận của người bệnh để điều chỉnh phương pháp và nội dung tư vấn, tập trung khắc phục các khâu còn hạn chế như hướng dẫn vận động thể lực và phát hiện sớm các dấu hiệu biến chứng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng trong nghiên cứu được tiến hành tại đâu và trên cỡ mẫu bao nhiêu?
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Tim mạch và Rối loạn chuyển hóa thuộc Bệnh viện Nội tiết Trung ương, thu thập dữ liệu trên mẫu thuận tiện gồm 100 người bệnh mắc ĐTĐ type 2 điều trị nội trú từ tháng 05/2022 đến tháng 07/2022.

2. Tiêu chuẩn để đánh giá công tác GDSK của điều dưỡng đạt yêu cầu trong đề tài là gì?
Người bệnh đánh giá 10 câu hỏi thuộc Phần II của bộ công cụ khảo sát. Điểm tối đa là 10 điểm; nếu tổng điểm đạt từ 7 điểm trở lên ($\ge 7$) thì công tác GDSK của điều dưỡng được xếp loại Đạt, dưới 7 điểm ($< 7$) là Chưa đạt.

3. Tỷ lệ chung người bệnh đánh giá công tác GDSK của điều dưỡng đạt mức Đạt là bao nhiêu?
Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 20 cho thấy có 83% người bệnh đánh giá công tác GDSK của điều dưỡng đạt yêu cầu, trong khi 17% đánh giá chưa đạt.

4. Nội dung GDSK nào được điều dưỡng thực hiện tốt nhất và nội dung nào có tỷ lệ không thực hiện cao nhất?
Nội dung được điều dưỡng thực hiện tốt và đầy đủ nhất là tư vấn chế độ sử dụng thuốc (93%) và tư vấn chế độ dinh dưỡng (91%). Nội dung có tỷ lệ người bệnh trả lời "không thực hiện" cao nhất là tư vấn chế độ vận động (6%) và tư vấn theo dõi phát hiện biến chứng (6%).

5. Nhận xét của người bệnh về thời điểm nhận tư vấn GDSK từ điều dưỡng như thế nào?
Chỉ có 40% người bệnh được điều dưỡng tư vấn ở cả 2 thời điểm (trong khi nằm viện và trước khi ra viện); 37% chỉ nhận tư vấn trước khi ra viện và 23% chỉ nhận tư vấn trong thời gian nằm viện.

Kết luận

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Chu Thị Tân đã phản ánh bức tranh thực tế về công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh ĐTĐ type 2 tại Khoa Tim mạch - Bệnh viện Nội tiết Trung ương với 83% người bệnh đánh giá đạt yêu cầu chuyên môn. Bên cạnh các mặt mạnh về tư vấn dùng thuốc và dinh dưỡng, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế trong tư vấn vận động, thời điểm truyền thông và kỹ năng của điều dưỡng do áp lực quá tải công việc hành chính. Các giải pháp đề xuất về xây dựng phòng truyền thông, chuẩn hóa quy trình tư vấn và đào tạo kỹ năng là cơ sở thực tiễn quan trọng nhằm nâng cao toàn diện chất lượng chăm sóc điều dưỡng nội trú.