phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận án gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn - Chƣơng 2. Thiết kế và sử dụng tài liệu theo môđun PPDH môn Toán THCS cho sinh viên CĐSP nƣớc CHDCND Lào. Thực nghiệm sƣ phạm.
Luận án có danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục kèm theo. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Môđun xuất hiện đầu tiên tại Mỹ, vào đầu thế kỉ thứ XX, nó đƣợc xuất hiện trong chƣơng trình đào tạo bổ túc tức thời trong các nhà máy sản xuất ô tô giúp công nhân có thể tự học hoặc tự học dƣới sự hƣớng dẫn của các kĩ sƣ (điển hình là hãng sản xuất ôtô General motor và ô tô Ford).
Sự ra đời của khoa học công nghệ, yêu cầu các công nhân phải làm quen với mục tiêu công việc nên bắt buộc các công nhân phải làm sao có thể làm việc, thích ứng nhanh và hiệu quả với các quy trình sản xuất về lí thuyết và cả thực hành trong một thời gian ngắn (có những giai đoạn cao điểm từ 2 - 3 ngày). Và phƣơng thức đào tạo phải thực sự linh hoạt để công nhân có thể đáp ứng sự luân chuyển công việc trong thời gian ngắn, điều này bắt buộc ngƣời ta phải xây dựng tài liệu hƣớng dẫn thành các môđun độc lập để ngƣời học có thể tự học, tiếp cận công việc, do đó chƣơng trình đào tạo theo môđun đƣợc áp dụng. Do mô hình đào tạo tiện lợi, mang lại chất lƣợng và hiệu quả cao nên đào tạo theo môđun nhanh chóng đƣợc các nƣớc tiên tiến trên thế giới áp dụng nhƣ Anh, Pháp, Đức. Rất dễ nhận thấy đây là một kiểu đào tạo môđun đúng theo phong cách Mỹ “thực chất, trực diện và hiệu quả” [59].
Đã có những giai đoạn tại Mỹ có những chƣơng trình bổ túc “năng lực cho GV” do Trung tâm giáo dục nghề nghiệp ở Viện Đại học Ohio của Mỹ tổ chức đào tạo đƣợc cấu trúc từ 12 môđun đến 100 môđun, chƣơng trình này mục đích nhằm phát triển bồi dƣỡng giáo viên. Đặc biệt, các môđun này đƣợc cầu trúc logic, phân thành các tầng, lớp chặt chẽ bao gồm các môđun sơ cấp (cung cấp kiến thức cơ bản) và các môđun thứ cấp (là các đơn vị thành phần là môđun bổ trợ) 62 . Ở Pháp, những khóa học có cấu trúc môđun đƣợc tổ chức trong thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ II tại các vùng mỏ than. Nhƣng nó khác ở chỗ công nhân Mỹ đƣợc đào tạo nhằm đáp ứng cho dây chuyền sản xuất, 8 còn ở Pháp nhằm giải quyết công ăn việc làm cho công nhân mỏ, do tình trạng thất nghiệp tại các mỏ than, nhƣng trong cả 2 trƣờng hợp các khóa học đều mang tính “trọn vẹn” và “tích hợp” rất cao [23].
Ở Thụy Điển, chƣơng trình đào tạo công nhân khai thác gỗ đƣợc cấu trúc theo trình tự và nội dung cơ bản qua các môđun đào tạo. Hệ thống đào tạo ở Thụy Điển đƣợc đƣa vào sử dụng từ những năm 50 của thế kỷ XX, nhƣng cho đến nay vẫn chƣa hoàn thiện. Điều này cũng nói lên việc phân định giới hạn, và nội dung các môđun là công việc rất phức tạp, nó quyết định hiệu quả của việc đào tạo theo môđun [60]. Bên cạnh đó, phƣơng thức đào tạo theo môđun cũng đƣợc triển khai ở Liên Xô (cũ) do Viện khoa học dạy nghề nghiên cứu áp dụng trong quá trình thực tập sản xuất kĩ thuật.
Môđun trienr khai ở Liên xô đƣợc thực hiện thông qua việc nghiên cứu xây dựng các môđun theo các đơn vị kiến thức [14]. Đào tạo môđun không chỉ dừng lại ở châu Mĩ và châu Âu mà còn đƣợc phát triển ở châu Úc, điển hình mô hình đào tạo theo mô đƣợc Australia phát triển rộng rãi. Australia phát triển chƣơng trình đào tạo sau các nƣớc châu Mĩ và châu Âu nhƣng thực sự nƣớc này đã kế thừa, kết hợp giữa chƣơng trình đào tạo truyền thống và các chƣơng trình đào tạo theo môđun khá nhuần nhuyễn và linh hoạt, đồng thời đƣa ra các cách tổ chức đánh giá các chƣơng trình đào tạo theo môđun hiệu quả. Ngoài ra, trong quá trình xây dựng chƣơng trình đào tạo theo môđun, Australia chú trọng chƣơng trình mang tính chất đặc thù đối với mỗi bang khác nhau hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm của từng bang, ví dụ nhƣ M.Meyer sống tại bang Victoria đã công bố công trình về xây dựng chƣơng trình đào tạo theo môđun thực sự khác biệt so với chƣơng trình của các bang khác, nhóm tác giả này đã nghiên cứu đề xuất ra các khái niệm và kiến nghị, lí thuyết về chƣơng trình đào tạo hỗn hợp giữa môđun và truyền thống, giúp hai mô hình này bù lấp những điểm bất hợp lí của nhau tạo nên một mô hình đào tạo phù hợp và hiểu quả.Donnell đã đề cập đến dấu hiệu bản chất của môđun đào tạo là tính “trọn vẹn”, tính “trọn vẹn” là “phần cốt lõi” của một môđun[57], [58].
9 Đào tạo theo môđun cũng đƣợc sử dụng nhiều ở nhiều nƣớc châu Á, bao gômg Nam Triều Tiên, Thái Lan, Philippin nhƣng vẫn dừng lại ở đào tạo nghề và đào tạo đại học. Việc đào tạo theo môđun đƣợc đƣa vào trƣờng THPT bắt đầu từ các nƣớc Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan,…trong đó có một số nƣớc đã đƣa các chƣơng trình đào tạo theo môđun vào kế hoạch dạy học chính khóa ở các trƣờng THPT. Việc tổ chức dạy học theo môđun đƣợc triển khai đại trà khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) đã thực hiện xây dựng chƣơng trình đào tạo theo môđun hoàn chỉnh, hiệu quả và thiết thực. Hệ thống này của ILO đƣợc hoàn thành có tầm ảnh hƣởng lớn đến chƣơng trình đào tạo nghề và đào tạo học sinh THPT, đại học, cao đẳng của nhiều quốc gia và Việt Nam cũng nằm trong nhóm các nƣớc chịu tác động.
Sự chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ đã thách thức các trƣờng đại học, cao đẳng, tuy nhiên, khi chƣơng trình đào tạo theo môđun ra đời lại hoàn toàn phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ, giúp sinh viên chủ động trong học tập, nâng cao khả năng, ý thức tự học cho sinh viên đồng thời phân hóa đƣợc sinh viên. Tuy nhiên để chƣơng trình đào tạo theo môđun hiệu quả, đòi hỏi phải bỏ ra nhiều công sức, tìm tòi sáng tạo, xây dựng nên các môđun phù hợp với từng đối tƣợng và mục tiêu đào tạo của từng loại hình[61]. Hệ thống tín chỉ học tập xuất phát từ Viện ĐH Harvard, đƣợc Viện trƣởng Eliot thực hiện vào năm 1872. Chƣơng trình đào tạo cổ điển cứng nhắc đƣợc thay thế bởi sự lựa chọn rộng rãi các chƣơng trình, các môn học đối với SV.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã phát triển rộng khắp, đặc biệt ở Mỹ. Thực tiễn thực hiện mô hình đào tạo này cũng có những ƣu điểm và hạn chế nhất định. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có ƣu điểm là: Mang lại hiệu quả cao về phƣơng diện quản lý, giảm giá thành đào tạo, hiệu quả học tập cao và tạo ra tính mềm dẻo, khả năng thích ứng cao của các chƣơng trình đào tạo. Bên cạnh đó, hệ thống tín chỉ cũng bộc lộ những nhƣợc điểm: Kiến thức bị cắt vụn làm ảnh hƣởng đến động cơ học tập của SV, SV nhìn mức độ học vấn quy 10 định cho một văn bằng nhƣ là sự tích lũy các tín chỉ học tập hơn là việc học tập vì lợi ích cuối cùng của họ.
Hạn chế này đã đƣợc khắc phục bằng sự khởi xƣớng hệ thống “tín chỉ theo môđun” của Khoa Giáo dục - Viện Đại học Massachusetts (Mỹ). Hệ thống tín chỉ theo môđun, cho phép SV đạt đƣợc văn bằng đại học qua việc tích lũy các loại tri thức giáo dục khác nhau, đƣợc đo lƣờng bằng một đơn vị xác định. Tín chỉ theo môđun đƣợc cấp cho SV thực hiện hoạt động học tập dƣới sự điều khiển của GV, nhƣng cũng có thể cấp cho các SV làm việc độc lập khi đã ký kết một “hợp đồng học tập cá nhân” với GV. Những nghiên cứu về hệ thống tín chỉ, hay tín chỉ theo môđun tập trung chủ yếu vào phƣơng diện quản lý, và xây dựng chƣơng trình đào tạo.
Do đó, nó thiếu những chỉ dẫn đối với GV khi họ tham gia vào quá trình phát triển chƣơng trình đào tạo. Mặc dù vậy, hệ thống tín chỉ đã rất phổ biến, và đƣợc áp dụng rộng rãi nhờ những ƣu điểm có hiệu quả đào tạo cao, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao, đạt hiệu quả về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo. Một số nƣớc Đông Nam Á nhƣ Thái Lan, Việt Nam, Singapore triển khai dạy học môđun đại trà, có thể sử dụng cho mọi đối tƣợng. Hội nghị Quốc tế về “Triển khai áp dụng môđun trong đào tạo” đƣợc tổ chức hai lần ( lần 1 vào năm 1977 tại Thái Lan và lần 2 vào năm 1985 tại Pháp) đã có khuyến nghị “Sử dụng môđun là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tƣợng đào tạo.
Các nƣớc không có nền kinh tế phát triển, đầu tƣ tổng thể cho giáo dục bị hạn chế nên quan tâm tới đào tạo theo môđun. Không nên sa đà vào tranh cãi, duy danh thuật ngữ, mà nên triển khai áp dụng và từ đó rút kinh nghiệm” [21]. Đã có nhiều tài liệu biên soạn theo môđun nhƣ: “Khái niệm về môđun đào tạo kỹ năng cần thiết” của Ban đào tạo nghề thuộc Văn phòng lao động quốc tế; “Cẩm nang cho GV về quản lý giáo dục” của tổ chức UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng và một số sách, giáo trình Vật lý đại cƣơng ở Mỹ cũng đã biện soạn theo môđun [29]. Bƣớc vào thế kỉ XXI là kỉ nguyên của khoa học, công nghệ, thông tin và truyền thông, sự biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trƣờng và một 11 tất yếu là nền kinh tế tri thức đã mở ra.
Sự giao lƣu quốc tế rộng lớn đòi hỏi phải thiết kế một hệ dạy học mềm dẻo, linh hoạt cho phép ngƣời học dễ thích ứng với cơ chế thị trƣờng và có tính hiệu quả cao. Đó là hệ dạy học cá thể hóa (Personalized System of Instruction – PSL) hay kế hoạch (Keller Lan). Hệ dạy học này do Fred S.Keller và những cộng sự của ông sáng tạo ra. Từ đó đến nay hệ dạy học này phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc phƣơng Tây và lan ra toàn thế giới.