Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông sau 2018. Hoạt động trải nghiệm bao gồm hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Nội dung cơ bản của chương trình Hoạt động trải nghiệm xoay quanh các mối quan hệ giữa cá nhân HS với bản thân; giữa HS với người khác, cộng đồng và xã hội; giữa HS với môi trường; giữa HS với nghề nghiệp.
Nội dung này được triển khai qua 4 nhóm hoạt động chính: Hoạt động phát triển cá nhân; Hoạt động lao động; Hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng; Hoạt động hướng nghiệp [8]. Trong Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông môn Toán cấp tiểu học, mỗi lớp đều dành một thời lượng nhất định để tổ chức các hoạt động thực hành và trải nghiệm cho HS. Ở mỗi lớp, tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khoá như trò chơi học tập Toán, thi đua học Toán, các trò chơi liên quan đến ôn tập, củng cố kiến thức cơ bản hoặc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tình huống thực tiễn [9]. Tác giả Nguyễn Thị Liên và cộng sự (2016) đã nghiên cứu về việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông và thiết kế được một số chủ để hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học liên môn, hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học vật lý, … [23].
Tác giả Phạm Hữu Vang trong luận văn thạc sĩ đã đề xuất 5 biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường trung học cơ sở thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang [28]. Lê Thị Nga (2015) quan tâm đến việc tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm cho HS trong dạy học Lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông huyện Ba vì, Hà Nội. Tác giả đã đề xuất được biện pháp tổ chức hoạt động trải 5 nghiệm qua hình thức đóng vai; tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm bằng hình thức tham quan; Tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm bằng dạy học dự án, bằng tình huống [24]. Đỗ Thị Thanh Hương (2016) trong luận văn thạc sĩ đã thiết kế được một vài chủ đề trải nghiệm sáng tạo Toán học cho HS lớp 5 nhằm phát triển năng lực tính toán.
Các chủ đề đó bao gồm: Dạo chơi vườn bách thú, Về quê, Đường lên đỉnh Olympia, Chuyến dã ngoại bổ ích, … [20]. Tác giả Nguyễn Quang Nhữ (2017) quan tâm đến khía cạnh bồi dưỡng GV tiểu học về tổ chức cho HS học toán thông qua hoạt động trải nghiệm. Tác giả đã đề xuất được 4 biện pháp bồi dưỡng GV tiểu học về tổ chức học Toán thông qua hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động bồi dưỡng GV qua việc tổ chức hoạt động trải nghiệm toán học [25] Qua nghiên cứu một số kết quả về hoạt động trải nghiệm nhưng chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào công bố kết quả về thiết kế hoạt động trải nghiệm toán học cho HS tiểu học nói chung và HS các lớp cuối cấp nói riêng trong dạy học môn Toán. Một số khái niệm nền tảng 1.
Hoạt động - Theo Từ điển tiếng Việt, hoạt động là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể; hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, một lĩnh vực nhất định [26].Leontiev "Hoạt động là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể" [5]. Chủ thể của hoạt động trong quan điểm trên là con người. Con người chủ động, tích cực tổ chức, điều khiển hoạt động để tác động vào đối tượng (sự vật, tri thức, …). Hoạt động của loài người được phân biệt với hoạt động của loài vật ở mục đích của hoạt động.
6 *) Đặc điểm của hoạt động [23] - Tính đối tượng của hoạt động: Để sống được trong thế giới xung quanh mình con người phải tiến hành các hoạt động với thế giới đó. Hoạt động là quá trình tác động vào điều gì đó. Tính đối tượng được hiểu là quá trình chủ thể nhằm vào đối tượng như là cái trong đó có nhu cầu được đối tượng hóa. Hoạt động là hoạt động có đối tượng không phải chỉ với nghĩa là hoạt động bị xác định bởi thế giới khách quan.
- Tính chủ thể: Hoạt động có đối tượng thực hiện mối liên hệ giữa chủ thể và thế giới xung quanh bao giờ cũng là hoạt động có chủ thể. Tính chất chủ thể sống biểu hiện trong tính tích cực của chủ thể. Chủ thể vươn tới chiếm lĩnh đối tượng trong hoạt động sống của mình, nhằm tồn tại và phát triển. Trải nghiệm Theo [26], trải nghiệm có nghĩa là trải qua, kinh qua.
Trải nghiệm để phục vụ lại cuộc sống. Con người sống trong xã hội hiện thực, trao đổi thông tin với thực tại nhờ đó mà có được những kiến thức và kinh nghiệm sống cho bản thân. Qua đó con người sẽ dần hoàn thiện mình, cải tạo thế giới hiện thực và sống tốt hơn. Như vậy, sống và trải nghiệm là hai khía cạnh luôn song hành cùng nhau, bổ sung và hoàn thiện cho nhau [12].
*) Đặc điểm của trải nghiệm [23]. - Con người được trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động và các mối quan hệ giao lưu phong phú, đa dạng một cách tự giác. - Con người được thử nghiệm, thể nghiệm bản thân trong thực tế từ đó hiểu mình hơn, tự phát hiện những khả năng của bản thân. - Con người được tương tác, giao tiếp với người khác, với tập thể, với cộng đồng, với sự vật, hiện tượng, … trong cuộc sống.
- Con người thực sự là một chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo. - Trải nghiệm luôn chứa đựng hai yếu tố không thể tách rời là hành động và xúc cảm. Thiếu một trong hai yếu tố này đều không thể mang lại hiệu quả. - Kết quả của trải nghiệm là hình thành được kinh nghiệm mới, hiểu biết mới, năng lực mới, thái độ, giá trị mới, … 7 1.
Hoạt động trải nghiệm 1. Quan niệm - Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất, nhân cách, các năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân [7]. - Hoạt động trải nghiệm là các hoạt động giáo dục bắt buộc, trong đó học sinh dựa trên sự huy động tổng hợp kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và xã hội, tham gia hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và các kĩ năng sống khác [8]. Như vậy, có thể hiểu hoạt động trải nghiệm đề cập đến ở đây là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, ngoài hoạt động dạy học các môn học trong giờ lên lớp.
Hoạt động trải nghiệm có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy và giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo ra các thế hệ công dân phát triển toàn diện về năng lực, phẩm chất, biết vận dụng một cách tích cực các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, biết chia sẻ và quan tâm đến mọi người xung quanh. Hoạt động trải nghiệm về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể, ngoại khóa trên tinh thần tự chủ cá nhân, trải nghiệm cá nhân nhằm phát triển tốt nhất khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân trong tập thể. Yêu cầu cần đạt của hoạt động trải nghiệm a) Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung đối với hoạt động trải nghiệm - Yêu đất nước, con người: Tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội, các hoạt động từ thiện, các hoạt động bảo vệ môi trường, di sản văn hoá; tham gia các hoạt động lao động, sinh hoạt trong gia đình, nhà trường,. 8 - Sống mẫu mực: Thực hiện các hành vi phù hợp với các yêu cầu hay quy định đối với trẻ và không vi phạm pháp luật trong quá trình tham gia hoạt động trải nghiệm cũng như ngoài cuộc sống.
- Sống trách nhiệm: Thực hiện các nhiệm vụ được giao; biết giúp đỡ các bạn trong hoạt động; thể hiện sự quan tâm, lo lắng tới kết quả của hoạt động,. - Năng lực tự học: Có thái độ học hỏi thầy cô và các bạn trong quá trình hoạt động và có những kĩ năng học tập như: quan sát, ghi chép, tổng hợp, báo cáo,. những gì thu được từ hoạt động,. - Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề sáng tạo: Phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, hiệu quả nảy sinh trong quá trình hoạt động về nội dung hoạt động cũng như quan hệ giữa các cá nhân và vấn đề của chính bản thân,.
- Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp: Thể hiện kĩ năng giao tiếp phù hợp với mọi người trong quá trình tác nghiệp hay tương tác; có kĩ năng thuyết phục, thương thuyết, trình bày,. theo mục đích, đối tượng và nội dung hoạt động. - Năng lực hợp tác: Phối hợp với các bạn cùng chuẩn bị, xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai hoạt động và giải quyết vấn đề. Thể hiện sự giúp đỡ, hỗ trợ, chia sẻ nguồn lực,.
để hoàn thành nhiệm vụ chung. - Năng lực tính toán: Lập được kế hoạch hoạt động, định lượng thời gian cho hoạt động, xây dựng kế hoạch kinh phí, xác định nguồn lực, đánh giá,. cho hoạt động. - Năng lực tin học: Sử dụng ICT trong tìm kiếm thông tin, trình bày thông tin và phục vụ cho hoạt động trải nghiệm, cho định hướng nghề nghiệp,.
Có kĩ năng truyền thông hiệu quả trong hoạt động và về hoạt động.