Chương 1: Cơ sở lí luận của việc vận dụng dạy học dự án trong môn kĩ thuật ở tiểu học định hướng theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chương 2: Thực trạng vận dụng dạy học dự án trong môn kĩ thuật ở tiểu học định hướng theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Chương 3: Thiết kế quy trình dạy học dự án trong môn kĩ thuật ở tiểu học định hướng theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Chương 4: Thực nghiệm sư phạm 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG MÔN KĨ THUẬT Ở TIỂU HỌC ĐỊNH HƢỚNG THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về dạy học dự án Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về DHDA, nhưng vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Một số nhà nghiên cứu ở Đức cho rằng nguồn gốc của DHDA là các giáo sư đại học Charles R. Richards và John Dewey với các chương trình nghệ thuật thủ công và công nghiệp của họ năm 1900 [14]. Các nhà sử học Mĩ thì nhận định rằng chuyên gia nông nghiệp Rufus W. Stimson với "kế hoạch dự án gia đình" năm 1908 là người đầu tiên thực hiện dự án và được William Heard Kilpatrick lần đầu tiên giới thiệu đến toàn thế giới trong bài báo nổi tiếng "Phương pháp dự án"(the project method) [14].
Gần đây hơn, Michael Knoll nghiên cứu và nhận định thực chất thuật ngữ "dự án" được sử dụng trong các trường đào tạo kiến trúc ở Italia từ cuối thế kỉ XVI sau đó được cải tiến và phát triển ở Pháp, bằng chứng là sự ra đời của học viện Académie Royale'Arch architecture tại Paris vào năm 1671 [14], [15], [16]. Đến thế kỉ thứ XVIII học tập bằng dự án không còn độc quyền trong lĩnh vực kiến trúc ở Ý mà được phổ biến sang Mĩ và một số nước Châu Âu khác như Thụy Sĩ, Đức trong các lĩnh vực đào tạo nghề mộc, cơ khí, công nghệ máy tính. Sau mỗi khóa học HS phải hoàn thành một dự án học tập được minh chứng bằng một sản phẩm cụ thể do mình tự làm ra và có thể sử dụng được. Những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào cải cách giáo dục ở Mĩ diễn ra sôi nổi một trong những đại diện tiêu biểu của phong trào này là John Dewey (1859 - 1952), triết lí giáo dục của ông là cơ sở lí thuyết để DHDA được vận dụng các môn khoa học tự nhiên ở các trường phổ thông mà ở đó HS phải thực hiện dự án trồng đậu, cà rốt trong trang trại gia đình sau đó ghi chép lại hoạt động đã thực hiện thành hồ sơ học tập lưu lại ở phòng giáo dục Hoa Kì để làm tài liệu nghiên cứu về giáo dục [14].
Kế thừa những quan điểm của John Dewey, năm 1918 nhà giáo dục học William H. Kilpatrick đã phát triển ý tưởng về DHDA và được cả thế giới coi đây là 11 một PPDH có tính khả thi, là mô hình giáo dục của hiện tại và tương lai [17], [18]. Do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới lần thứ hai, phong trào cải cách giáo dục của Mĩ tạm thời bị lắng xuống, cho đến những năm 70 của thế kỉ XX, DHDA được nghiên cứu và sử dụng trở lại ở các nước Châu Âu và Châu Á như Mĩ, Đan Mạch, Đức, Thái Lan… [6]. Các nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ lí luận và ưu việt của DHDA so với lớp học truyền thống cụ thể như J.Wolff đã mô tả đặc điểm và kĩ thuật xây dựng các dự án trong trường học, đặc biệt nghiên cứu đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của một dự án học tập [19].
Thomas xây dựng kĩ thuật thiết kế các dự án học tập với 9 nguyên tắc cơ bản và bộ tiêu chí để đánh giá các dự án [4]. Bender cho rằng DHDA là cách tiếp cận dạy học tốt nhất trong thế kỷ XXI để giúp người học giải quyết vấn đề thực tiễn [18]. Để khẳng định thêm những lợi ích mà DHDA mang lại, các nghiên cứu đã nhấn mạnh vận dụng DHDA có thể giảm thiểu hiện tượng HS bỏ học, thúc đẩy động cơ học tập và các kĩ năng hợp tác giữa GV với đồng nghiệp, hợp tác giữa HS với HS đồng thời nâng cao kết quả học tập [20], [21]. Bên cạnh đó, sử dụng DHDA thích ứng với các phong cách học tập khác nhau hơn là các cách dạy truyền thống, bằng chứng là trong nghiên cứu của J.
oaler đã chỉ ra rằng, HS trong các lớp học đã được dạy theo dự án vượt trội hơn ở các lớp khác trong các câu hỏi về khái niệm cũng như giải quyết tốt hơn các vấn đề đặt ra. Theo tác giả, "HS được học theo kiểu DHDA cởi mở hơn, tiến bộ hơn, phát triển vốn kiến thức linh hoạt hơn và có ích lợi hơn để áp dụng vào nhiều hoàn cảnh khác nhau [22], [23]. Một số nghiên cứu khác cũng khẳng định, DHDA có tác động đáng kể đến thành tích của học sinh trong dạy học môn toán ở cấp tiểu học, ngoài ra HS có sự tiến bộ về các năng lực đặc thù của môn học và năng lực chung khi thực hiện dự án, cụ thể: HS có sự tiến bộ về năng lực thiết kế qua đánh giá khả năng vận dụng khái niệm của họ; HS có tiến bộ đáng kể khi trả lời các bài trắc nghiệm truyền thống liên quan đến khái niệm. Ngoài ra, DHDA khuyến khích học sinh giao tiếp bằng lời nói và cải thiện kỹ năng tư duy phản biện trong việc giải quyết vấn đề [24], [25].
Rèn luyện thói quen làm việc và các hành vi khác: "Người học làm việc cá nhân và làm việc nhóm đều cảm thấy tự tin, có thói quen làm việc hiệu quả và áp dụng được tư duy phê phán trong khi tìm kiếm hoặc tạo ra phương 12 án giải quyết các dự án phù hợp” [26], [27]. Một số nghiên cứu còn chỉ ra dạy học bằng dự án có ưu thế phát triển các kỹ năng sáng tạo, giao tiếp và cộng tác so với dạy học giải quyết vấn đề. Nghiên cứu cũng chứng minh không có sự khác biệt đáng kể về kĩ năng tư duy phản biện khi áp dụng 2 kiểu dạy học nói trên [27]. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh Covid 2019, DHDA được vận dụng trong dạy học và đã khẳng định được ưu thế và sự phù hợp để sử dụng thay thế cho hình thức học tập từ xa trong thời kỳ đại dịch với sáu khía cạnh cần cân nhắc: 1) sự sẵn sàng, 2) an toàn, 3) giám sát, 4) chuyên đề, 5) các nguyên tắc học tập theo dự án và 6) các giai đoạn học tập [28].
Hiện nay, DHDA vẫn tiếp tục được quan tâm nghiên cứu lí thuyết và vận dụng trong dạy học ở Việt Nam, trong các môn học khác nhau ở mọi cấp học từ mầm non đến đào tạo đại học nhằm phát huy tính tự lực học tập của HS, thúc đẩy các kĩ năng hợp tác, giao tiếp và góp phần nâng cao hiệu quả học tập. Nghiên cứu qua các chương trình lớn như Intel, dự án phát triển GV phổ thông, dự án Việt Bỉ… [9]. Trong lĩnh vực giáo dục đại học, các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp ở các trường đại học kĩ thuật hay các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận của sinh viên rất gần gũi và cũng được xem như một dự án. Trong các hình thức này, sinh viên phải thực hiện nhiệm vụ học tập mà mình lựa chọn dưới sự hướng dẫn của giảng viên phải hoàn thành và tạo ra sản phẩm trong thời gian quy định.
Sản phẩm này được Hội đồng chuyên môn ĐG, cho điểm. Bên cạnh hình thức trên, DHDA được vận dụng trong lĩnh vực đào tạo giáo viên, đào tạo khối ngành về kĩ thuật, công nghệ thông tin, ngoại ngữ, y tế… Các nghiên cứu đã chứng minh được DHDA khả thi trong đào tạo nghề nghiệp như Nguyễn Thị Diệu Thảo, Nguyễn Thị Phương Nhung, Nguyễn Ngọc Trang, Nguyễn Thanh Nga, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Thị Kim Hằng, [10], [29], [30], [31], [32], [33], [34], [35]. Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, vào những năm 1960 – 1980, các trường đã đặt ra nhiệm vụ lao động và hướng nghiệp, HS phải thực hiện các dự án trồng cây, dự án phát triển vườn trường [10]. Tuy nhiên, thời điểm đó, DHDA còn là một khái niệm mơ hồ với cả GV và HS.
Năm 1997, tác giả Nguyễn Văn Cường có bài viết “Dạy học Project hay dạy học 13 theo dự án” đã tập trung trình bày lược sử hình thành và phát triển của DHDA cũng như phân tích cơ sở triết học của DHDA [36]. Sau này, Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier tiếp tục làm rõ hơn về khái niệm và các đặc điểm của DHDA trong các nghiên cứu của mình [13]. Lí luận về DHDA được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện bởi các tác giả Đỗ Hương Trà, Nguyễn Lăng ình, Nguyễn Thị Diệu Thảo, Lê Khoa…[18], [6], [10], [37]. Hiện nay, DHDA vẫn tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng trong dạy học đặc biệt là vận dụng trong các môn khoa học tự nhiên (toán, vật lí, hóa học, sinh học,…) ở trung học cơ sở và trung học phổ thông [6], [38], [39], [40], [41], [42], [43].
Hầu hết các tác giả đều nhận thấy DHDA phát huy được tính năng động, sáng tạo, bồi dưỡng năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực giải quyết vấn đề, rèn luyện các kĩ năng chuyên môn, các kĩ năng xã hội của HS… Khi được học theo dự án, HS có thái độ học tập tích cực và tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không bị gò bó và áp đặt [6], [38], [39], [40], [41], [42], [43], [44], [45]. Điểm qua những công trình nghiên cứu ở trên để thấy rằng DHDA đã được vận dụng từ rất sớm và ngày càng có nhiều nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này như một giải pháp để cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau. Ở nước ta những công trình nghiên cứu về DHDA xuất hiện vào đầu thập niên 90 của thế kỉ XX như một minh chứng cho xu hướng dạy học lấy HS làm trung tâm thay cho cách dạy truyền thống lấy GV làm trung tâm.
Những nghiên cứu về DHDA đã đóng góp đáng kể vào việc đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, chủ động của HS.