Mở đầu Chƣơng 1:Cơ sở lí luận về năng lực toán học của học sinh tiểu học Chƣơng 2: MAP Test - công cụ đáng giá năng lực toán học tại trƣờng Phổ thông Song ngữ Wellspring Saigon Chƣơng 3: Sự khác biệt giữa năn lực toán học của học sinh lớp 5 tại trƣờng Phổ thông Song ngữ Wellspring Saigon và trƣờng Quốc tế Saigon Pearl Kết luận và kiến nghị 4 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TOÁN HỌC CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực Toán học của học sinh trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Có nhiều nhận định cho rằng học sinh gặp bất lợi trong việc học toán học do sự phức tạp của việc sử dụng hai ngôn ngữ. Trong khi nhiều nghiên cứu cho thấy rằng song ngữ có ảnh hƣởng đến hiệu suất trong toán học, những nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa ngôn ngữ và toán học nhƣ là: Clarkson (2007) đã gợi ý rằng bài học song ngữ tăng cƣờng, nâng cao kỹ năng siêu nhận thức của học sinh trong toán học. Bài báo này trình bày về năng lực ngôn ngữ và khả năng ngôn ngữ của học sinh lớp 3 song ngữ (tiếng Ailen và tiếng Anh) trong toán, và cách sử dụng ngôn ngữ của họ khi tham gia giải quyết vấn đề toán học.
Đặc biệt ở cấp học cao hơn, những sinh viên lựa chọn cách tiếp cận song ngữ trong giáo dục bậc đại học năm thứ nhất đang gặt hái những thành quả của việc tăng cƣờng khả năng song ngữ và kỹ năng siêu nhận thức. Có những quan điểm mâu thuẫn về việc học toán bằng ngôn ngữ thứ hai ở mọi cấp độ giáo dục. Song, một số nghiên cứu đã tìm thấy mối tƣơng quan tích cực với toán học bằng ngôn ngữ thứ hai và thành tích học tập (ví dụ Barwell, 2003, Clarkson, 1992, Swain, 1996, Williams, 2002). Cụ thể hơn, các nghiên cứu thực nghiệm điều tra mối quan hệ giữa trình độ thông thạo và trình độ toán học là công cụ để thúc đẩy lĩnh vực nghiên cứu này.
Trƣớc những năm bảy mƣơi, có nhiều ý kiến cho rằng song ngữ đã có một tác động tiêu cực đến sự phát triển nhận thức và học tập toán học (Clarkson, 2007). Nghiên cứu điều tra hiệu ứng nhận thức của song ngữ về học tập toán học đã bắt đầu vào đầu thập niên tám mƣơi và đã tiến triển từ đó. Cả hai nhà nghiên cứu là Dawe 5 Luan van (1983) và Clarkson (1992) đều kết luận rằng các học sinh toán học song ngữ có năng lực trong cả hai ngôn ngữ tốt hơn các học sinh chỉ học toán bằng một ngôn ngữ. Họ cũng nhận thấy rằng những sinh viên toán học yếu kém về cả hai ngôn ngữ của họ cũng có kết quả toán học kém.
Một nghiên cứu khác đƣợc tiến hành ở Ailen đã cho thấy những lợi ích tích cực về nhận thức liên quan đến khả năng toán học và tiếng Anh so với những học sinh trung học phổ thông ở cả nƣớc (Shiel, Gilleece, Clerkin & Millar, 2011). Nhƣ vậy, qua kết quả của các nghiên cứu trên chúng ta có thể nhận định rằng: môi trƣờng song ngữ đã có những ảnh hƣởng tích cực đến ngƣời học, trong đó có năng lực toán học. Tại Việt Nam Giáo dục song ngữ vẫn còn là khái niệm tƣơng đối lạ ở Việt Nam, cho nên chƣa có nhiều nghiên cứu về các mô hình giáo dục song ngữ cũng nhƣ những tác động của giáo dục song ngữ đến ngƣời học. Cho đến nay, có rất nhiều hệ thống trƣờng đã và đang hình thành, hoạt động giáo dục theo mô hình giáo dục song ngữ.
Tại mỗi đơn vị trƣờng học cũng đã có những nghiên cứu mang tính cục bộ về những tác động của giáo dục song ngữ đến ngƣời học, đặc biệt là lợi ích của giáo dục song ngữ đối với ngƣời học nhƣ là: Hệ thống trƣờng Việt Mỹ (VASS), thành lập từ tháng 7 năm 2005, cho đến nay, VASS đã đã xây dựng và phát triển hệ thống trƣờng học với đầy đủ các cấp học với hơn 3.000 học viên Thiếu nhi, Thiếu niên, 30.000 sinh viên các khóa Anh văn Giao tiếp, học thuật đang theo học tại các Trƣờng, Trung tâm Anh ngữ thành viên Hệ thống Trƣờng Việt Mỹ VASS. Với kinh nghiệm 13 năm đào tạo song ngữ ở tất cả các cấp học từ Mẫu Giáo, Tiểu học và Trung học, VASS cũng đã khẳng định các lợi ích mà giáo dục song ngữ mang lại: 6 Luan van - Năng lực Anh ngữ vƣợt trội: Với việc học một buổi theo chƣơng trình các môn bằng tiếng Việt của Bộ GĐ&ĐT, buổi còn lại học chƣơng trình quốc tế với các môn học bắt buộc thuộc Cambridge CIPP dành cho bậc Tiểu học (gồm Toán, Khoa học, tiếng Anh) và Cambridge IGCSE dành cho bậc Trung học (gồm Toán, Khoa học, Địa lý, tiếng Anh, ICT, tiếng Pháp và Âm nhạc) đƣợc giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh bởi 100% giáo viên nƣớc ngoài với giáo trình và tài liệu tham khảo của ĐH Cambridge giúp học sinh hệ song ngữ tại VASS có năng lực Anh ngữ vƣợt trội bao gồm cả tiếng Anh giao tiếp và tiếng Anh học thuật. “Sự kết hợp này giúp các em phát triển khả năng ngôn ngữ hiệu quả theo cách tự nhiên nhất nhƣ công dân của các nƣớc Singapore, Philippines… vốn sử dụng tiếng Anh nhƣ ngôn ngữ thứ hai” – TS. Nguyễn Thế Bảo, Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Hệ thống Trƣờng Việt Mỹ VASS, cho biết.
- Phát triển toàn diện – học tập tự chủ: Phƣơng pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm nên chƣơng trình song ngữ tại VASS đƣợc thiết kế một cách hợp lý căn cứ vào tâm lý lứa tuổi của học sinh nhằm tạo cho trẻ sự phát triển toàn diện và cân bằng. Các môn học đƣợc giảng dạy theo phƣơng pháp tích hợp, ứng dụng lý thuyết vào thực tế cuộc sống giúp học sinh chủ động học tập theo nhóm và tìm tòi kiến thức mới. Từ đó, hình thành và rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho các em nhƣ kỹ năng lãnh đạo, giải quyết vấn đề, tƣ duy tích cực và thuyết trình… Chính vì vậy, dù đƣợc trang bị lƣợng kiến thức nhiều hơn song học sinh vẫn tiếp thu dễ dàng, không cảm thấy bị quá tải mà còn hào hứng, chủ động trong việc học.[21] BVIS – Trƣờng Quốc tế Anh Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh đƣợc chứng nhận hoàn toàn bởi Hội đồng các trƣờng Quốc tế CIS (Council of International Schools) với cựu học sinh đang học tập tại các trƣờng Đại học hàng đầu trên thế giới cũng đã nêu ra những tác động tích cực mà giáo dục song ngữ mang lại [22]: - Cải thiện kết quả học tập - Tăng cƣờng khả năng đa nhiệm - Kỹ năng quan sát và tỉnh táo hơn 7 Luan van - Cải thiện kỹ năng ra quyết định - Kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn - Ngăn chặn bệnh Alzheimer và các bệnh mất trí nhớ - Cải thiện trí nhớ - Triển vọng trong công việc và học tập Về phía Bộ Giáo dục: Để giúp Việt Nam đạt đƣợc mục tiêu phát triển Thiên Niên Kỷ về Phổ cập giáo dục Tiểu học, cũng nhƣ các mục tiêu đề ra trong Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học năm 1991 và để duy trì Phổ cập Giáo dục Tiểu học theo Luật Giáo dục năm 2005, Chính phủ đã phát động một số sáng kiến nhằm hỗ trợ đặc biệt cho trẻ em bị thiệt thòi. Một trong những sáng kiến đã tỏ ra rất hiệu quả sau chỉ một năm thực hiện chính là Nghiên cứu thực hành Giáo dục Song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ (GDSNTCSTMĐ) đang đƣợc Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện trên cơ sở hợp tác với UNICEF Việt Nam.[15] Với bối cảnh Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc khác nhau, nhiều nhóm dân tộc có ngôn ngữ riêng và sống ở các vùng xa xôi, kinh tế chậm phát triển.
Tổng số ngƣời dân tộc thiểu số (DTTS) khoảng 11 triệu, chiếm 13% trong tổng số 85,8 triệu dân số cả nƣớc. Ngôn ngữ giảng dạy chính trong nhà trƣờng là tiếng Việt và tất cả trẻ em DTTS đều đƣợc dạy bằng tiếng Việt. Điều này đã tạo nên một “rào cản về ngôn ngữ” đối với nhiều học sinh DTTS, nhiều em có khả năng tiếng Việt hạn chế hoặc một số em không biết một chút tiếng Việt nào. Vì rất ít giáo viên có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ DTTS, nên học sinh gặp nhiều khó khăn để hiểu đƣợc bài giảng và hệ quả là các em không tự tin tham gia học một cách tích cực.
Đây cũng là một trong những lý do tại sao tỉ lệ hoàn thành tiểu học của trẻ em DTTS 1 (61%) thấp hơn nhiều so với của các em ngƣời Kinh (86%). Tháng 8 năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNICEF đã triển khai việc thực hiện nghiên cứu thực hành giáo dục song ngữ trên cở sở tiếng mẹ đẻ (GDSNTCSTMĐ) ở ba tỉnh: Lào Cai, Gia Lai và Trà Vinh. 8 Luan van Sau khi kết thúc năm học 2009-2010, học lớp 1 tại ba tỉnh địa bàn của Nghiên cứu đã đƣợc đánh giá qua 03 môn học: Tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt và Toán. Vụ Giáo dục Tiểu học đã tổ chức đánh giá này một cách độc lập.
Học sinh đã đƣợc kiểm tra nghe nói và viết môn tiếng Mẹ đẻ. - Với tiếng Việt, do học sinh chƣa học đọc và viết, nên học sinh đƣợc kiểm tra nghe nói ở môn này. - Với môn Toán, nhằm mục đích so sánh, toàn bộ học sinh lớp 1 tham gia Nghiên cứu và một nhóm học sinh lớp 1 không tham gia Nghiên cứu (lớp đại trà) ở mỗi trƣờng đƣợc đánh giá bằng cùng một bài kiểm tra. Về môn Toán, kết quả cho thấy hầu nhƣ học sinh tham gia chƣơng trình GDSNTCSTMĐ đều bằng hoặc vƣợt chuẩn quy định (tổng hợp 03 cấp độ: giỏi, khá, trung bình.
68% học sinh tham gia trong chƣơng trình GDSNTCSTMĐ đạt kết quả “giỏi” trong khi đó chỉ có 28% học sinh không tham gia chƣơng trình GDSNTCSTMĐ đạt kết quả ở mức độ này. Trong môn Toán, không có học sinh tham gia chƣơng trình GDSNTCSTMĐ nào bị kết quả yếu trong khi đó ở lớp đại trà có 10% học sinh bị kết quả yếu. Những khác biệt rõ rệt trong kết quả học tập của học sinh ở hai nhóm cho thấy phƣơng pháp tiếp cận GDSN là phƣơng thức tốt để giúp học sinh học tập đạt kết quả cao hơn. [15] Nhƣ vậy, mô hình giáo dục song ngữ hiện nay đang ngày càng đƣợc xã hội quan tâm, đặc biệt là những lợi ích mà mô hình giáo dục song ngữ mang lại.