CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN KỸ NĂNG LIÊN HỆ, SO SÁNH, KẾT NỐI CHO HỌC SINH LỚP 5 TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC 1.Đọc hiểu và năng lực đọc hiểu 1.Đọc hiểu Đọc hiểu là khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi và sử dụng các tài liệu viết hoặc in kết hợp với bối cảnh khác nhau. Kĩ năng này đòi hỏi sự học hỏi liên tục để phát triển kiến thức và tiềm năng của một cá nhân. Đọc hiểu cũng cho phép người đọc tham gia vào xã hội một cách đầy đủ. Đọc hiểu là một hoạt động quan trọng của con người để tiếp thu tri thức văn hóa.
Từ khi có chữ viết, loài người đã có thể ghi lại lịch sử và văn minh của mình. Các tác phẩm văn học cổ có giá trị vì mang dấu ấn của thời đại, chứa đựng tri thức văn hóa quý báu. Ngày nay, mặc dù có nhiều cách khác để tiếp thu thông tin, nhưng đọc vẫn là phương pháp chính để chúng ta hiểu biết về thế giới. Từ việc đọc và hiểu văn bản, đọc hiểu là quá trình giải mã thông tin trong văn bản và đánh giá nội dung và hình thức của nó.
Sau đó, ta có thể áp dụng thông tin đó để giải quyết các vấn đề cụ thể trong học tập và cuộc sống. Theo quan điểm của cá nhân tôi tôi nhận thức đọc hiểu là một thuật ngữ có hai phạm trù khác nhau là “đọc” và “hiểu” nhưng lại có quan hệ mật thiết, gắn bó liên kết với nhau trong quá trình lĩnh hội, tiếp nhận VBTP văn học. “Đọc” là một hoạt động; “Hiểu” là mục đích. Đọc để làm gì? Đọc là một phương pháp quan trọng để nâng cao tri thức, tăng cường vốn sống, văn hoá và phát triển bản thân.
Ngoài ra, việc đọc cũng giúp hiểu về các kỹ năng và phương pháp làm việc hiệu quả, nhằm đạt được thành công trong công 10 việc hàng ngày. Năng lực đọc hiểu Năng lực được định nghĩa khá đa dạng bởi các nhà giáo dục. Theo CTGDPT 2018, năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học. Nó được hiểu là kết quả của việc tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như niềm tin, ý chí.
Theo PISA (Chương trình Đánh giá Năng lực Học sinh Quốc tế), năng lực đọc hiểu là khả năng hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết nhằm đạt mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, cũng như tham gia vào xã hội. Năng lực đọc hiểu không chỉ là khả năng giải mã văn bản, mà còn là việc tạo ra ý nghĩa phù hợp với ngữ cảnh thông qua sử dụng kiến thức trước đó và các tình huống gợi ý từ xã hội và văn hóa. Khi đọc người đọc thường sử dụng nhiều quy trình, kỹ năng và chiến lược để thúc đẩy, giám sát và duy trì sự hiểu biết. Song, quy trình và chiến lược này có thể được điều chỉnh để phù hợp với các ngữ cảnh khác nhau.
Năng lực đọc hiểu là sự huy động kiến thức, kĩ năng và các yếu tố tâm lí khác (động cơ, hứng thú, ý chí,…) vào hoạt động đọc hiểu, giúp người đọc giãi mã được văn bản, khám phá nội dung và đặc sắc nghệ thuật của văn bản và có thể vận dụng những thông tin từ văn bản vào giải quyết các nhiệm vụ đọc hiểu mới một cách thành công trong những bối cảnh cụ thể của thực tiễn. Đọc hiểu văn bản văn học 1.Khái niệm và đặc trưng của văn bản văn học 1.Khái niệm văn bản văn học Văn bản văn học là văn bản nghệ thuật ngôn từ, ở đó, thông qua việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật bằng chất liệu ngôn ngữ, tác 11 giả thể hiện quan niệm, suy nghĩ, tình cảm của mình về những vấn đề đặt ra của đời sống. Theo lí thuyết tiếp nhận văn học, văn bản văn học qua sự tiếp nhận của người đọc sẽ trở thành tác phẩm văn học (trong tâm hồn của người đọc). Văn bản văn học (văn học viết) chỉ có một, nhưng tác phẩm văn học thì có nhiều, văn bản văn học là cái bất biến, tác phẩm văn học là điều khả biến.
Mặt khác, văn bản văn học là một hệ thống cấu tạo nhiều tầng lớp ý nghĩa. Con đường tiếp nhận bao giờ cũng là một quá trình đi từ ký kiệu ngôn ngữ đến nội dung tư tưởng. Để hiểu được vấn đề mà văn bản đề cập tới thì công việc trước tiên của người học là đọc. Có thể nói không có hoạt động đọc thì sẽ không có những công việc tiếp theo.
Do vậy, đọc – hiểu xét về mặt chức năng vừa là một phương tiện để nghiên cứu, vừa là đòi hỏi bắt buộc để tìm hiểu văn bản văn học. Thông qua hoạt động đọc - hiểu, HS còn đóng một vai trò tích cực trong việc khám phá ý nghĩa của văn học, làm cho người nghe như nhìn thấy phần chìm lắng đọng đằng sau câu chữ ở trong văn bản. Như vậy, đọc - hiểu đã trở thành một phương tiện phát triển tính sáng tạo và năng lực văn học của HS. Hơn thế nữa, đọc- hiểu còn là phương tiện giáo dục đạo đức và thẩm mỹ cho các em.
HS trong quá trình đọc – hiểu sẽ nhận thức được đầy đủ hơn, cảm thụ giàu cảm xúc hơn về nội dung của tác phẩm, các chức năng nghệ thuật, thủ pháp nghệ thuật tạo nên ý nghĩa của tác phẩm, qua đó bồi dưỡng lòng yêu văn học, tình yêu ngôn ngữ và yêu tiếng nói dân tộc.Đặc trưng của văn bản văn học: - Đặc trưng về ngôn từ: Ngôn từ văn học có tính nghệ thuật và thẩm mỹ: các yếu tố từ ngữ, âm thanh, kiểu câu… được sắp xếp, tổ chức có chủ định nhằm tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn Ngôn từ văn học dùng để sáng tạo hình tượng, ngôn từ văn học dựng lên một bức tranh sinh động nhưng là trong trí tưởng tượng của con người 12 (trong đó các nhân vật đều là những nhân vật hư cấu, người kể chuyện, nhân vật trữ tình không đồng nhất với tác giả) tuy ít nhiều có trong những nguyên mẫu ngoài đời nhưng đều là nhưng nhân vật do nhà văn hư cấu nên Ngôn từ văn học có tính biểu tượng và đa nghĩa, biểu tượng trong văn học là những hình ảnh cụ thể nhưng mang ý nghĩa quy ước của nhà văn hay người đọc. Cũng do tính biểu tượng mà ngôn từ văn học mang tính đa nghĩa, biểu hiện những ý ngoài lời - Đặc trưng về hình tượng: Hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi nên trong tưởng tượng, trong tâm trí người đọc. Từng câu, chữ của văn bản với các chi tiết cụ thể về hành vi, cử chỉ, hành động, ngoại cảnh của con người dần gợi lên cuộc sống riêng của nhân vật, sống động như cuộc sống thật ngoài đời Hình tượng văn học là một phương tiện giao tiếp đặc biệt: thông qua các chi tiết, nhân vật…, nhà văn truyền cho người đọc cách nhìn, cách cảm về cuộc đời, quan niệm về cuộc sống, tức là mong muốn truyền cho người đọc diều mình muốn gửi gắm. Quá trình đọc – hiểu văn bản văn học chính là quá trình thực hiện sự giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và bạn đọc 1.Đọc hiểu văn bản văn học Trong đọc hiểu, đọc hiểu văn bản văn học có một vai trò quan trọng và đặc biệt.
Vì văn bản văn học là sản phẩm sáng tạo độc đáo của con người, có sức sống lâu bền và không thể thay thế được. Khi đọc văn bản văn học, con người tiếp nhận các giá trị tư tưởng và nghệ thuật; đối thoại với tác giả và bày tỏ thái độ, tình cảm của mình. Do đó, trong đọc hiểu văn bản văn học, hiểu không chỉ là nhận ra ý nghĩa của kí hiệu mà còn là phán đoán ra ý muốn biểu đạt. Hiểu còn bao hàm nội dung sâu rộng hơn như hiểu biết, đồng cảm, và hiểu về cuộc sống.
Đọc hiểu văn bản văn học là quá trình biến văn bản văn học thành tác phẩm văn học trong mỗi độc giả. Đó là quá trình tiếp cận văn bản và tiếp nhận các giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản, bắt đầu từ đọc hiểu tầng 13 ngôn từ, đến đọc hiểu tầng hình tượng, tầng ý nghĩa và vận dụng vào thực tiễn đời sống. Rèn kĩ năng liên hệ, so sánh, kết nối trong đọc hiểu văn bản văn học 1. Liên hệ, so sánh, kết nối 1.
Liên hệ hay nói cách khác là liên tưởng là một kĩ thuật đọc quan trọng. Keene và Zimmerman (1997) đã khẳng định: “ Người đọc sẽ hiểu văn bản hơn khi học thực hiện các loại liên hệ: liên hệ bản thân(text-to-self) và liên hệ văn bản khác (text-to-text), liên hệ với thế giới (text-to- world). Liên hệ với bản thân là liên hệ cái người đọc đang đọc với những kinh nghiệm và cuộc sống của chính họ. Cụ thể khi học sinh tập đọc bài Dế mèn bênh vực kể yếu thì phải hiểu được các từ khó trong bài như cỏ xước, nhà trò, bự, lương ăn, ăn hiếp, mai phục…đồng thời hiểu được nội dung câu chuyện là ca ngợi tấm lòng hào hiệp, thương yêu người khác, sẵn sàng bênh vực kẻ yếu của Dế Mèn và có sự liên tưởng đến hình ảnh những nhân vật khác trong các câu chuyện cổ tích hoặc các bộ phim hoặc ngoài cuộc sống về sự nghĩa hiệp, sẵn sàng bênh vực kẻ yếu, xoá bỏ những bất công.
Liên hệ văn bản này đến văn bản khác: những chi tiết, nhân vật, sự kiện, đề tài, chủ đề,.của văn bản có thể khiến người đọc liên hệ đến những văn bản khác. Liên hệ là một hoạt động gắn kết giữa chủ thể với các đối tượng có liên quan. Liên hệ gần với liên tưởng, đều dựa trên cơ chế tương liên, tương đồng, tương cận, nhưng liên hệ có nội hàm nghiêng về mối quan hệ trong thực tiễn giữa các chủ thể, còn liên tưởng nghiêng về liên kết về tâm hồn, dựa trên hoạt động của trí tưởng tượng. So sánh là tìm ra điểm giống nhau hay khác nhau, điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều đối tượng.
So sánh giúp cho chủ thể nhận thức xác định sự đồng nhất hay không đồng nhất khi xem xét các sự vật hiện tượng. 14 So sánh được sử dụng thường xuyên trong mọi hoạt động thuộc tất cả những lĩnh vực khác nhau của đời sống thường ngày. Kết nối là hành động giao tiếp và tương tác với những người, vật, hiện tượng xung quanh của con người.