Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động trong kỷ nguyên số ghi nhận sự gia tăng vượt bậc của các ngành nghề liên quan đến khoa học và kỹ thuật với tốc độ tăng trưởng 26% trong giai đoạn 2004-2014, gấp 2 lần mức trung bình của các lĩnh vực khác. Trước xu thế đó, giáo dục Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ theo tinh thần của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, thực tế dạy học môn Vật lý cấp trung học cơ sở hiện nay vẫn chủ yếu truyền thụ kiến thức hàn lâm; học sinh thiếu cơ hội vận dụng lý thuyết vào giải quyết các bài toán đời sống thực tiễn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khắc phục sự mất cân đối giữa trang bị lý thuyết và thực hành trải nghiệm trong dạy học Vật lý lớp 8. Mục tiêu cụ thể của đề tài là xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề giáo dục STEM "Áo phao xanh" thuộc chương "Cơ học", nhằm phát triển toàn diện năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Nghiên cứu được thực hiện tại trường Trung học cơ sở Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn trong năm học 2019-2020.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc tạo ra một quy trình sư phạm khả thi với thời lượng gồm 2 tiết chính khóa và 5 ngày dự án ngoại khóa, giúp hơn 85% học sinh trong lớp thực nghiệm nâng cao rõ rệt các chỉ số thành phần của năng lực giải quyết vấn đề, đồng thời giải quyết bài toán tái chế 100% rác thải chai nhựa thành sản phẩm phao cứu sinh hữu ích cho cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng khung lý thuyết giáo dục STEM của Honey (2014) và Hiệp hội Giáo viên Dạy Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSTA, 1944). Mô hình này xác định STEM là phương thức giáo dục tích hợp liên ngành giữa bốn lĩnh vực: Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering) và Toán học (Mathematics), đưa các khái niệm học thuật gắn liền với bối cảnh thực tế.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng mô hình cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề gồm 4 thành tố cốt lõi: Tìm hiểu vấn đề; Thiết lập không gian vấn đề; Lập kế hoạch và thực hiện giải pháp; Đánh giá và phản ánh giải pháp. Tiến trình dạy học STEM được thiết kế chuẩn hóa qua 5 hoạt động học tập: Khởi động phát hiện vấn đề; Nghiên cứu kiến thức nền; Đề xuất ý tưởng thiết kế; Chế tạo thử nghiệm; Báo cáo và đánh giá sản phẩm. Ba khái niệm chuyên ngành nền tảng được tích hợp xuyên suốt là: Lực đẩy Ác-si-mét, Điều kiện cân bằng vật nổi, và Dạy học trải nghiệm liên môn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ khảo sát thực trạng trên cỡ mẫu 45 giáo viên môn Vật lý và 126 học sinh khối 8 tại trường Trung học cơ sở Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích, phản ánh đặc thù giảng dạy bộ môn khoa học tự nhiên tại khu vực miền núi phía Bắc.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê toán học mô tả và thực nghiệm sư phạm là nhằm đối chiếu khách quan giữa số liệu định lượng (tần suất, phần trăm) với các quan sát định tính qua phiếu tiêu chí Rubric đánh giá năng lực. Quá trình thu thập dữ liệu, thiết kế chủ đề và triển khai thực nghiệm sư phạm được tiến hành liên tục từ tháng 9/2019 đến tháng 1/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn cung cấp các số liệu quan trọng về thực trạng dạy và học môn Vật lý:

Thứ nhất, mức độ hiểu biết và vận dụng STEM của giáo viên còn hạn chế: 42/45 giáo viên (chiếm 93,3%) chưa từng được tập huấn về STEM; 43/45 giáo viên (chiếm 95,6%) chưa bao giờ vận dụng giáo dục STEM vào giảng dạy. Dù vậy, 77,8% giáo viên (35/45 thầy cô) đánh giá việc đưa STEM vào nhà trường là cần thiết hoặc rất cần thiết.

Thứ hai, rào cản lớn nhất đối với giáo viên nằm ở khâu thiết kế và thời gian: 44/45 giáo viên (chiếm 97,8%) phản ánh việc thiết kế hoạt động STEM làm mất nhiều thời gian; 41/45 giáo viên (chiếm 91,1%) thiếu thời lượng tiết học do chương trình nặng; 38/45 giáo viên (chiếm 84,4%) cho biết cơ sở vật chất không đủ phương tiện dạy học. Dù vậy, 100% giáo viên (45/45 người) đều khẳng định học sinh sẽ rất hứng thú khi được tự tay chế tạo sản phẩm.

Thứ ba, nhu cầu thực hành và trải nghiệm sáng tạo của học sinh rất cao: 89,7% học sinh (113/126 em) mong muốn áp dụng lý thuyết để chế tạo sản phẩm; 91,3% học sinh (115/126 em) hào hứng với các giờ học có ứng dụng kỹ thuật và thí nghiệm. Trái lại, 73,0% học sinh (92/126 em) cho biết giáo viên chủ yếu chỉ dùng thí nghiệm biểu diễn hoặc chiếu video mô phỏng, học sinh rất hiếm khi được tự tay làm thí nghiệm thực hành.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên chỉ ra khoảng cách đáng kể giữa nguyện vọng thực hành chế tạo của học sinh (89,7%) và tỷ lệ triển khai STEM thực tế của giáo viên (chỉ 4,4%). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực thi cử truyền thống và việc thiếu vắng các tài liệu hướng dẫn quy trình bài học mẫu.

Dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa rõ nét qua các biểu đồ hình cột phân tích các nhóm khó khăn của giáo viên và bảng phân phối tỷ lệ mức độ hứng thú của học sinh. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Văn Biên và Tưởng Duy Hải (2019), khẳng định mô hình dạy học tích hợp theo dự án là giải pháp tối ưu. Luận văn đã chứng minh tính khả thi của chủ đề "Áo phao xanh": chỉ với 2 tiết học trên lớp và 5 ngày chế tạo ngoại khóa tại nhà, học sinh không chỉ nắm vững kiến thức Lực đẩy Ác-si-mét và Sự nổi mà còn tự lực tính toán số lượng chai nhựa cần thiết để nâng một cơ thể người nổi cân bằng trong nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nhân rộng mô hình dạy học STEM hiệu quả trong nhà trường trung học cơ sở, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị then chốt:

Tập huấn chuẩn hóa phương pháp thiết kế bài học STEM cho 100% giáo viên bộ môn Khoa học tự nhiên trước năm 2022. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học sư phạm tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên sâu nhằm giảm thiểu ít nhất 30% thời gian chuẩn bị giáo án cho giáo viên.

Xây dựng ngân hàng chủ đề dạy học tích hợp sử dụng vật liệu tái chế giá rẻ như chai nhựa, xốp, ống hút. Tổ chuyên môn Vật lý - Công nghệ tại các trường trung học cơ sở triển khai tối thiểu 2 chủ đề STEM/học kỳ cho khối lớp 8, bắt đầu từ năm học 2020-2021.

Đổi mới công cụ kiểm tra đánh giá theo định hướng tiếp cận năng lực. Ban Giám hiệu nhà trường và giáo viên bộ môn áp dụng hệ thống phiếu đánh giá Rubric, phiếu tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng, phân bổ tỷ trọng 20-30% điểm số thường xuyên cho các sản phẩm dự án sáng tạo.

Đầu tư không gian trải nghiệm khoa học mở tại các trường học. Nhà trường tận dụng phòng thực hành sẵn có để xây dựng góc sáng chế STEM, hướng tới mục tiêu 100% học sinh được trực tiếp làm thí nghiệm và chế tạo ít nhất 1 lần mỗi tuần trong giai đoạn 2021-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và sản phẩm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng:

Giáo viên môn Vật lý và Khoa học tự nhiên cấp Trung học cơ sở: Khai thác trực tiếp giáo án chi tiết 2 tiết, hệ thống phiếu học tập và 4 tiêu chí đánh giá năng lực giải quyết vấn đề để giảng dạy hiệu quả các bài học Lực đẩy Ác-si-mét và Sự nổi trong chương trình Vật lý 8 và Khoa học tự nhiên 8.

Cán bộ quản lý chuyên môn và Ban Giám hiệu trường phổ thông: Sử dụng các số liệu thực trạng về rào cản thời gian (91,1%) và thiết bị (84,4%) để hoạch định thời khóa biểu linh hoạt, bố trí ngân sách và xây dựng các câu lạc bộ STEM ngoại khóa.

Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Vật lý và Sư phạm Khoa học tự nhiên: Nghiên cứu phương pháp luận thực nghiệm sư phạm, kỹ thuật tích hợp liên môn và cách xây dựng bộ công cụ đánh giá Rubric chuẩn hóa phục vụ quá trình kiến tập, thực tập giảng dạy.

Chuyên gia phát triển chương trình và tác giả sách giáo khoa: Tham khảo mô hình "Áo phao xanh" như một bài học điển hình về việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và rèn luyện kỹ năng sinh tồn vùng lũ vào môn học chính khóa.

Câu hỏi thường gặp

Chủ đề “Áo phao xanh” giải quyết những đơn vị kiến thức nào trong chương trình Vật lý lớp 8? Chủ đề tích hợp trực tiếp kiến thức của Bài 10 (Lực đẩy Ác-si-mét), Bài 11 (Thực hành nghiệm lại lực đẩy Ác-si-mét) và Bài 12 (Sự nổi). Học sinh vận dụng công thức tính lực đẩy và điều kiện nổi của vật để tính toán thể tích và số lượng chai nhựa cần thiết giúp nâng người có trọng lượng 40-50 kg nổi an toàn.

Thời lượng tổ chức chủ đề STEM này được phân bổ ra sao để không quá tải chương trình? Tiến trình gồm 2 tiết học trên lớp kết hợp 5 ngày làm việc ngoại khóa. Tiết 1 dành cho việc tiếp thu kiến thức nền và phê duyệt bản vẽ kỹ thuật; 5 ngày ngoại khóa để các nhóm thu gom chai nhựa và chế tạo sản phẩm; Tiết 2 dành cho báo cáo, thử nghiệm độ nổi và đánh giá.

Làm thế nào để đánh giá khách quan năng lực giải quyết vấn đề của từng học sinh? Giáo viên sử dụng kết hợp ba công cụ: bảng tiêu chí quan sát Rubric theo 4 thành tố năng lực, phiếu tự đánh giá của cá nhân và phiếu đánh giá chéo giữa các thành viên trong nhóm. Cách tiếp cận đa chiều này triệt tiêu hoàn toàn sự ỷ lại trong làm việc tập thể.

Chủ đề này có khả thi tại các trường vùng sâu, vùng xa khó khăn về cơ sở vật chất không? Hoàn toàn khả thi vì nguyên liệu chế tạo sử dụng 100% rác thải nhựa sinh hoạt dễ tìm như chai nước khoáng đã qua sử dụng, dây rút nhựa, keo dán. Chi phí làm ra mỗi chiếc áo phao gần như bằng 0 đồng, rất phù hợp với các địa bàn miền núi như tỉnh Lạng Sơn.

Điểm đổi mới căn bản của đề tài so với cách dạy học Vật lý truyền thống là gì? Dạy học truyền thống chỉ dừng lại ở việc đọc số liệu lực kế trong phòng thí nghiệm; đề tài đưa học sinh vào vai trò kỹ sư thiết kế, phải liên kết toán học, kỹ thuật gia công và ý thức bảo vệ môi trường để giải quyết bài toán chống đuối nước thực tế.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về giáo dục STEM và cấu trúc 4 thành tố của năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học cơ sở.
  • Cung cấp dữ liệu thực trạng chính xác từ 45 giáo viên và 126 học sinh tại tỉnh Lạng Sơn, phản ánh rõ 97,8% thầy cô gặp khó khăn về thiết kế bài dạy.
  • Xây dựng thành công quy trình dạy học chủ đề "Áo phao xanh" gồm 5 hoạt động học tập tích hợp giữa lý thuyết cơ học và bảo vệ môi trường.
  • Đóng góp bộ công cụ đánh giá Rubric định lượng và định tính chuẩn xác, đảm bảo độ tin cậy cao cho việc đo lường năng lực người học.
  • Kế hoạch giai đoạn 2020-2025 hướng tới nhân rộng mô hình tại các tỉnh miền núi phía Bắc và số hóa hệ thống học liệu trên nền tảng trực tuyến.

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà giáo dục đang tìm kiếm giải pháp chuyển đổi phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Hãy bắt đầu áp dụng quy trình thiết kế bài học STEM ngay hôm nay để biến mỗi giờ học Vật lý thành một không gian sáng tạo và trải nghiệm thực tiễn sống động cho học sinh.