CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG TRUYỀN MIỆNG TRỰC TUYẾN ĐẾN Ý ĐỊNH MUA SẢN PHẨM THỜI TRANG NỘI ĐỊA 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu tại nước ngoài Sự phát triển của Internet và các truyền thông xã hội ngày càng có ảnh hưởng đối với ý định mua sắm trên mọi lĩnh vực. Đã có nhiều bài nghiên cứu trước đây về truyền miệng điện tử. Dưới đây là những nghiên cứu liên quan mà tác giả đã tìm hiểu: Nghiên cứu của Abdallah Q. Bataineh vào năm 2015, bài nghiên cứu này là kiểm tra tác động của nhận thức truyền miệng điện tử (eWOM) đối với ý định mua hàng; bằng cách lấy hình ảnh công ty làm biến trung gian.
Bảng khảo sát được phát cho 1000 học sinh ở Amma sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook, Twitter, Youtube và Instagram. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến chất lượng thông tin, số lượng thông tin, độ tin cậy của thông tin eWOM có ảnh hưởng đến ý định mua. Theo tác giả chất lượng eWOM là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đối với ý định mua hàng, mức độ ảnh hưởng đến ý định thấp dần theo thứ tự độ tin cậy của eWOM , số lượng eWOM. Sau đó 1 năm tức 2016, Erkan và Evans có nghiên cứu về ảnh hưởng của eWOM trên mạng xã hội đến ý định mua sắm của khách hàng tại Hoa Kỳ.
Đối tượng khảo sát ở đây là 384 sinh viên tại các trường đại học và sử dụng mô hình SEM. Kết quả của nghiên cứu cho rằng các chất lượng, độ tin cậy, tính hữu ích, chấp nhận và thái độ đối với thông tin là những yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định của khách hàng. Đối tượng khảo sát có độ tuổi từ 18 đến 29 tuổi. Đóng góp chính của nghiên cứu này là phát triển một mô hình khái niệm toàn diện, tìm hiểu các yếu tố quyết định thông tin eWOM trên phương tiện truyền thông xã hội ảnh hưởng đến ý định mua hàng của người tiêu dùng.
Kết quả này cũng đã được chứng minh trong các nghiên cứu eWOM trước đây (Cheung và cộng sự, 2008; Shu và Scott, 2014). Vào năm 2013, Lin và cộng sự người Trung Quốc đã có nghiên cứu phân tích các thuộc tính của eWOM có ảnh hưởng đến quan điểm, hành vi của khách hàng khi 8 đưa ra ý định mua, eWOM được nhìn theo 3 khía cạnh bao gồm: chất lượng, chuyên môn người gửi và số lượng. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình SEM để xem xét mối liên hệ giữa các biến. Kết quả chỉ ra rằng chất lượng, số lượng và chuyên môn của người gửi truyền miệng trực tuyến có tác động tích cực đến ý định mua hàng.
Quan trọng nhất, sự tham gia của hình ảnh thương hiệu và gắn kết sản phẩm có tác dụng kiểm duyệt trong mối quan hệ giữa eWOM và ý định mua hàng. Lin và cộng sự (2013) nhấn mạnh tầm quan trọng của các đánh giá trực tuyến tác động đến người dùng. eWOM có thể đại diện cho những người cung cấp thông tin, giới thiệu về sản phẩm của doanh nghiệp. Các tác giả cũng cho rằng, doanh nghiệp nên xem eWOM là một phần trong chiến lược Marketing để thu hút đồng thời giữ chân khách hàng.
Truyền miệng giữa mọi người với nhau mang đến hiệu quả cao hơn chiến lược truyền thông. Năm 2020, Ngarmwongnoi Chananchida và các cộng sự nghiên cứu về ý nghĩa việc áp dụng eWOM đối với hành trình của khách hàng ở Vương Quốc Anh. Bài viết này nhằm mục đích điều tra động cơ của khách hàng để tham gia vào truyền miệng điện tử (eWOM), cũng như ảnh hưởng của eWOM đối với hành vi của khách hàng, cả ở giai đoạn mua và sau khi mua. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với 30 cuộc phỏng vấn với người tiêu dùng Thái Lan.
Bài nghiên cứu đánh giá số lượng eWOM, độ tin cậy của eWOM và thái độ đối với eWOM đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá tính hữu ích của thông tin và việc áp dụng. Nghiên cứu này giải quyết lỗ hổng nghiên cứu này bằng cách điều tra không chỉ động cơ của khách hàng để tương tác với eWOM mà còn cả tác động của nó đối với hành vi của họ ở giai đoạn mua và sau khi mua. Nghiên cứu của Matute và cộng sự (2016) người Mỹ với mục đích tìm hiểu tác động của eWOM đến ý định mua của khách hàng. Đặc biệt, nghiên cứu đề xuất một mô hình trong đó tin tưởng vào một người bán trực tuyến và nhận thấy sự hữu ích của một trang web làm trung gian ảnh hưởng của các đặc tính truyền miệng điện tử (eWOM) đối với các ý định mua lại.
Mô hình phương trình cấu trúc đã được sử dụng trên một mẫu của 252 khách hàng trực tuyến. Một bảng câu hỏi trực tuyến nhằm vào người dùng internet, những người trước đây đã mua hàng trực tuyến và đọc các 9 đánh giá trực tuyến nhận được từ trang web của nhà cung cấp. Trong mô hình nghiên cứu này, tác giả cho rằng chất lượng ảnh hưởng đến ý định mua lại thông qua lòng tin, độ tin cậy ảnh hưởng đến ý định mua lại thông qua nhận thức hữu ích. Số lượng tác động trực tiếp đến ý định mua lại trực tuyến.
Khi khách hàng đã từng tìm hiểu thông tin và quyết định mua hàng, hành vi mua lại về sau chịu tác động khá nhiều bởi niềm tin và tính hữu ích của thông điệp. Hành vi mua lại hàng cũng khác với hành vi mua mới lần đầu bởi lẽ khách hàng đã có kinh nghiệm nhất định trong tìm kiếm thông tin và đã trải nghiệm với sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Kết quả cho thấy chỉ có chất lượng truyền miệng trực tuyến có tác động trực tiếp tích cực đến người tiêu dùng khi mua lại sản phẩm hoặc dịch vụ trong khi số lượng có ảnh hưởng tiêu cực. Nhận thức hữu ích làm trung gian ảnh hưởng của tất cả các đặc điểm truyền miệng điện tử đến ý định mua lại trực tuyến.
Uy tín, niềm tin cũng gián tiếp ảnh hưởng đến ý định mua lại thông qua sự tin tưởng vào nhà cung cấp trực tuyến (Matute, 2016). Nghiên cứu của Cheung và Thadani (2012) Các tác giả Cheung và Thadani (2012), nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng của truyền miệng trực tuyến đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng Trung Quốc. Các tác giả dựa vào các nghiên cứu trước đây để xác định mô hình và khung lý thuyết phục vụ cho công tác nghiên cứu về truyền miệng trực tuyến. Bằng việc tổng hợp 25 bài báo khoa học liên quan đến sự ảnh hưởng của eWOM đến hành vi người tiêu dùng, Cheung và Thadani đã cung cấp khung lý thuyết phục vụ cho công tác nghiên cứu về sau.
Trong bài nghiên cứu với mục đích tổng hợp lại các lý thuyết từ các công trình nghiên cứu trước đây và là nguồn tham khảo giúp thực hiện các nghiên cứu tiếp về truyền miệng trực tuyến. Để phục vụ cho nghiên cứu của mình, tác giả đã trích một phần nhỏ mô hình nghiên cứu của Cheung và Thadani (2012) có liên quan đến đề tài. Trong mô hình nghiên cứu tác giả đưa ra sự hữu ích của thông tin và sự tin cậy của thông tin eWOM ảnh hưởng đến chấp nhận thông tin. Chấp nhận thông tin có ảnh hưởng đến ý định mua của khách hàng.
10 Nghiên cứu của Zhu và cộng sự (2016) Dựa trên mô hình chấp nhận thông tin, các tác giả phát triển một mô hình nghiên cứu để điều tra ảnh hưởng của truyền thông C2C đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng trong cộng đồng trực tuyến. Mẫu nghiên cứu là 324. Kết quả cho thấy chất lượng bình luận, độ tin cậy nguồn và sức mạnh ràng buộc thông điệp ảnh hưởng tích cực đến quyết định mua hàng thông qua đánh giá tính hữu dụng của sản phẩm. Ngoài ra, sức mạnh ràng buộc thông điệp thể hiện hiệu ứng khác biệt trong đánh giá tính hữu dụng của sản phẩm giữa bối cảnh người tiêu dùng giao tiếp với các mối quan hệ thực và ảo.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Trịnh Hoài Sơn và các cộng sự vào năm 2021 đã có bài nghiên cứu đề xuất phương án thúc đẩy ý định mua sắm sản phẩm thời trang nội địa Việt Nam trên nền tảng thương mại xã hội trên địa bàn Hà Nội.
Trong bối cảnh ngành công nghiệp thời trang Việt Nam ngày càng khởi sắc, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sắm sản phẩm thời trang nội địa trên nền tảng thương mại xã hội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và thu thập câu trả lời trực tuyến qua mạng Internet. Sau khi phân tích dữ liệu thu được từ 555 người tiêu dùng bằng phương pháp hồi quy bội, kết quả cho thấy các nhân tố bao gồm sự thích thú, nhận thức tính dễ sử dụng, đánh giá trực tuyến, hình ảnh thương hiệu, quảng cáo đều ảnh hưởng tích cực tới ý định mua sắm trên nền tảng thương mại xã hội; đặc biệt hình ảnh thương hiệu có tác động mạnh nhất. Bên cạnh đó, nhận thức về rủi ro lại có tác động tiêu cực đến ý định mua sắm sản phẩm thời trang nội địa của người tiêu dùng.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đóng góp cả về mặt lý thuyết và thực tiễn, giúp các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thời trang nội địa đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thúc đẩy ý định mua hàng của người tiêu dùng. Lê Thùy Dương và các cộng sự có bài nghiên cứu mới chỉ cách đây 1 năm, về Các yếu tố tác động đến niềm tin thương hiệu và ý định mua sản phẩm thương hiệu thời trang nội địa của giới trẻ. Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng niềm tin là một yếu tố đã được khẳng định trong nhiều nghiên cứu về ý nghĩa đối với hành vi người tiêu 11 dùng. Ở Việt Nam, các thương hiệu nội địa, đặc biệt là các thương hiệu thời trang nội địa, chưa có được sự tin tưởng của người tiêu dùng Việt.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định các nhân tố tác động đến niềm tin thương hiệu thời trang nội địa của giới trẻ trong độ tuổi từ 18 - 25 trên địa bàn Hà Nội. Kết quả cho thấy tác động tích cực của các nhân tố: Nhận thức giá trị, Truyền thông thương hiệu, Nhận thức rủi ro, Nhận thức chất lượng tới niềm tin thương hiệu thời trang nội địa của giới trẻ Hà Nội.