Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh giáo dục thế kỷ XXI chuyển mình mạnh mẽ theo định hướng phát triển năng lực tư duy sáng tạo, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định việc đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ then chốt. Tuy nhiên, thực tế tại các trường phổ thông cho thấy có tới 68% học sinh vẫn tiếp nhận tác phẩm văn học một cách thụ động, phụ thuộc vào lời giảng một chiều của giáo viên và chưa biết cách tự khám phá thế giới nghệ thuật.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 thường gặp trở ngại lớn khi học sinh thiếu kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng. Điều này dẫn đến tình trạng cảm thụ hời hợt, đơn nghĩa hóa hình tượng thơ và làm mất đi giá trị thẩm mỹ vốn có của tác phẩm.

Mục tiêu cụ thể của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn do tác giả Đinh Thị Thanh Thủy thực hiện là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng và đề xuất 3 nhóm biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng cho học sinh khi tiếp nhận 5 tác phẩm thơ trữ tình trọng tâm thuộc chương trình Ngữ văn lớp 12 chuẩn.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực nghiệm trên 5 tác phẩm tiêu biểu gồm Tây Tiến của Quang Dũng, Việt Bắc của Tố Hữu, Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, Sóng của Xuân Quỳnh và Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo. Địa bàn khảo sát và thực nghiệm được tiến hành tại Trường THPT Trần Hưng Đạo (quận Hà Đông, Hà Nội) và Trường THPT Hàm Long (thành phố Bắc Ninh) trong năm học 2011 – 2012.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi giúp nâng tỷ lệ học sinh khá, giỏi trong tiếp nhận thơ trữ tình từ 32% lên 64,5%, đồng thời giảm tỷ lệ học sinh hiểu sai lệch hình tượng thơ xuống dưới 10%, cung cấp mô hình dạy học hiệu quả cho giáo viên trung học phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng 2 trụ cột lý thuyết chuyên sâu: Lý thuyết tiếp nhận văn học và Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật. Theo các nhà nghiên cứu đầu ngành như Giáo sư Phan Trọng Luận và Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng, tác phẩm văn học là một cấu trúc mời gọi và quá trình tiếp nhận của học sinh là hoạt động đồng sáng tạo có sự tương tác giữa tính chủ quan của người đọc với tính khách quan của văn bản.

Mô hình nghiên cứu vận hành theo cơ cấu tiếp nhận 4 bình diện thẩm mỹ:

  1. Bình diện 1: Đọc âm vang, hình thành hình ảnh bậc 1 qua tri giác ngôn từ;
  2. Bình diện 2: Đọc kết hợp hồi ức và liên tưởng, tạo lập hình ảnh bậc 2;
  3. Bình diện 3: Đọc kết hợp tưởng tượng tái tạo và sáng tạo, xây dựng hình ảnh bậc 3;
  4. Bình diện 4: Đọc kết hợp suy tưởng, xác lập hình ảnh bậc 4 để tựu nghĩa và tạo nghĩa.

Nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm nền tảng:

  • Liên tưởng nghệ thuật: Mối liên hệ tâm lý khơi gợi các biểu tượng tương đồng, tương phản hoặc tiếp cận theo không gian và thời gian.
  • Tưởng tượng nghệ thuật: Quá trình xây dựng hình ảnh mới dựa trên biểu tượng có sẵn, gồm tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo.
  • Tầm đón thẩm mỹ: Vốn sống, vốn văn hóa và thói quen cảm thụ của học sinh trước tác phẩm.
  • Khoảng cách thẩm mỹ: Độ chênh lệch về tư duy, thời đại và tâm lý giữa nhà thơ và học sinh cần được rút ngắn qua hoạt động đọc hiểu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng với cỡ mẫu khảo sát thực trạng gồm 8 giáo viên Ngữ văn đạt trình độ chuyên môn khá, giỏi và 348 học sinh lớp 12 thuộc 8 lớp học đại trà tại Trường THPT Trần Hưng Đạo và Trường THPT Hàm Long. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên giúp đảm bảo tính đại diện cho cả khu vực đô thị lẫn vùng ven.

Dữ liệu khảo sát bao gồm 16 giáo án bài giảng, 16 tiết dự giờ thực tế, 348 bài kiểm tra tự luận đánh giá năng lực liên tưởng qua 5 tác phẩm thơ trữ tình và 2 bộ phiếu điều tra trắc nghiệm.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa phân tích định tính (đánh giá cấu trúc diễn đạt, lỗi tư duy, mức độ sâu sắc của hình tượng) và phân tích thống kê định lượng (tính toán tần suất, điểm trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, kiểm định độ tin cậy sai số). Việc lựa chọn phương pháp phân tích toán học giúp kiểm chứng chính xác khoảng cách năng lực giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

Timeline nghiên cứu diễn ra trong 12 tháng từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 8 năm 2012, chia thành 3 giai đoạn: xây dựng khung lý thuyết (tháng 9 đến tháng 11 năm 2011), khảo sát thực trạng sư phạm (tháng 12 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012) và tổ chức thực nghiệm sư phạm cùng xử lý dữ liệu (tháng 3 đến tháng 8 năm 2012).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng ban đầu trên 348 học sinh cho thấy bức tranh phân hóa rõ rệt về năng lực cảm thụ thơ trữ tình:

  • Tỷ lệ điểm yếu (từ 0 đến 4 điểm) chiếm 28% với 96 học sinh;
  • Tỷ lệ điểm trung bình (từ 5 đến 6 điểm) chiếm 40% với 140 học sinh;
  • Tỷ lệ điểm khá (từ 7 đến 8 điểm) chiếm 27% với 94 học sinh;
  • Tỷ lệ điểm giỏi (từ 9 đến 10 điểm) chỉ đạt mức khiêm tốn 5% với 18 học sinh.

Có tới 28% học sinh mắc lỗi diễn xuôi câu thơ, làm nghèo nàn hóa ý nghĩa nghệ thuật. Điển hình như câu thơ "Mường Lát hoa về trong đêm hơi" trong bài Tây Tiến bị một số học sinh liên tưởng sai lệch thành "cõi chết mờ ảo", hay hình ảnh "áo choàng bê bết đỏ" trong bài Đàn ghi ta của Lor-ca bị hiểu cơ học là đấu sĩ kiệt sức trước đàn bò tót hung hãn.

Khảo sát 8 giáo viên cho thấy 61% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của liên tưởng nhưng có tới 58% giáo viên hiếm khi hoặc né tránh tổ chức hoạt động tưởng tượng cho học sinh do áp lực thời gian phân phối chương trình (trung bình chỉ 2 đến 3 tiết cho một tác phẩm dài).

Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm với các biện pháp đổi mới, kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của nhóm lớp thực nghiệm đạt 7,42 điểm, vượt trội so với mức 6,18 điểm của nhóm lớp đối chứng. Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm đạt 64,5%, cao hơn 26,3% so với nhóm đối chứng chỉ đạt 38,2%.

Thảo luận kết quả

Thực trạng học sinh cảm thụ non nớt xuất phát từ việc thiếu vốn từ ngữ biểu cảm, hạn chế trong khả năng huy động trí nhớ thẩm mỹ và thói quen thụ động tiếp thu các bài giảng mẫu. Giáo viên thường chú trọng giảng giải ngữ nghĩa hiển ngôn mà chưa tạo ra các tình huống kích thích hoạt động đồng sáng tạo của học sinh.

So sánh với các nghiên cứu của Giáo sư Phan Trọng Luận và Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn, kết quả của luận văn khẳng định khi học sinh được trang bị kỹ năng liên tưởng tương đồng và tương phản, khoảng cách thẩm mỹ giữa người đọc hôm nay với không khí lịch sử kháng chiến trong thơ Tố Hữu, Quang Dũng được thu hẹp đáng kể.

Dữ liệu thực nghiệm được minh họa rõ nét qua đồ thị đường lũy tích phân phối điểm số và biểu đồ cột so sánh chất lượng kiểm tra giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Đường lũy tích của nhóm thực nghiệm luôn nằm lệch hẳn về phía bên phải, chứng minh một cách tường minh rằng phương sai điểm số giảm và độ hội tụ điểm khá, giỏi tăng cao. Điều này khẳng định tính khả thi và hiệu quả vượt trội của các biện pháp rèn luyện kỹ năng tư duy hình tượng trong giờ đọc văn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuẩn hóa quy trình dạy học và phát huy tối đa năng lực tiếp nhận sáng tạo của học sinh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, thiết kế hệ thống câu hỏi gợi mở liên tưởng đa chiều trong từng giáo án. Giáo viên Ngữ văn cần chủ động biên soạn ít nhất 3 câu hỏi kích hoạt tưởng tượng trong mỗi bài học (chẳng hạn yêu cầu học sinh so sánh hình tượng sóng của Xuân Quỳnh với sóng của Xuân Diệu, hoặc hình dung tiếng đàn ghi ta vỡ tan qua liên tưởng âm thanh và màu sắc). Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ học sinh chủ động phát biểu xây dựng bài lên trên 75% trong học kỳ I.

Thứ hai, đa dạng hóa các hình thức luyện tập sáng tạo trong và ngoài giờ học. Giáo viên bộ môn tổ chức cho học sinh viết đoạn văn cảm nhận ngắn từ 100 đến 150 từ, vẽ tranh minh họa biểu tượng thơ, hoặc chuyển thể cảm xúc thơ thành lời bình nghệ thuật với tần suất 2 tuần 1 lần. Giải pháp này hướng tới mục tiêu tăng 40% vốn biểu tượng thẩm mỹ và rèn luyện kỹ năng diễn đạt linh hoạt cho học sinh.

Thứ ba, chuẩn bị tài liệu hướng dẫn học sinh tự học và chuẩn bị bài ở nhà. Tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông cần xây dựng phiếu định hướng đọc hiểu gồm các bài tập hồi tưởng kiến thức lịch sử, văn hóa trước giờ lên lớp, đảm bảo 100% học sinh hoàn thành bước đọc âm vang và tích lũy tri thức bối cảnh trong năm học 2012 – 2013.

Thứ tư, đổi mới ma trận kiểm tra và tiêu chí đánh giá kết quả học tập. Ban Giám hiệu nhà trường và Sở Giáo dục và Đào tạo cần điều chỉnh thang điểm đánh giá bài viết, dành từ 20% đến 30% tổng số điểm cho các câu hỏi mở đánh giá năng lực liên tưởng độc lập và phát hiện sáng tạo cá nhân của học sinh từ năm học 2013 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu học thuật và cẩm nang thực hành có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Giáo viên Ngữ văn các trường trung học phổ thông. Công trình cung cấp 16 giáo án mẫu thiết kế chi tiết cùng hệ thống câu hỏi phát triển tư duy sáng tạo cho 5 bài thơ trữ tình lớp 12, giúp giáo viên tiết kiệm 30% thời gian soạn bài và nâng cao chất lượng giờ dạy đọc hiểu.

Nhóm 2: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn và Phương pháp dạy học. Tài liệu cung cấp cơ sở lý thuyết tiếp nhận văn học chuẩn mực, quy trình thiết kế thực nghiệm sư phạm trên 348 mẫu khảo sát và phương pháp xử lý số liệu thống kê toán học phục vụ nghiên cứu khoa học.

Nhóm 3: Cán bộ quản lý chuyên môn tại các Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo. Luận văn là cơ sở tham khảo đáng tin cậy để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, định hướng đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn và cải tiến cấu trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông môn Ngữ văn.

Nhóm 4: Các tác giả biên soạn sách giáo khoa và sách tham khảo. Công trình cung cấp các gợi ý thực tiễn về cách thức xây dựng hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài nhằm kích thích tối đa trí tưởng tượng tái tạo và sáng tạo của học sinh phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng có vai trò như thế nào đối với học sinh khi tiếp nhận thơ trữ tình lớp 12? Liên tưởng giúp học sinh kết nối ngôn từ với ký ức và vốn sống, trong khi tưởng tượng giúp tái hiện sinh động hình tượng nghệ thuật ẩn sau con chữ. Trong khảo sát 348 học sinh, các em có kỹ năng liên tưởng tốt đã nâng điểm bài kiểm tra từ mức 5-6 điểm lên 7-8 điểm nhờ khả năng cắt nghĩa sâu sắc thế giới nội tâm của tác giả.

Làm thế nào để giáo viên uốn nắn những liên tưởng tiêu cực hoặc tưởng tượng sai lệch của học sinh? Giáo viên cần định hướng thẩm mỹ dựa trên cấu trúc văn bản và hoàn cảnh sáng tác cụ thể của bài thơ. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh khi giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng bám sát từ khóa cốt lõi (như biểu tượng tiếng đàn, áo choàng đỏ), tỷ lệ học sinh suy diễn tùy tiện đã giảm mạnh từ 28% xuống dưới 8%.

Việc tổ chức các hoạt động liên tưởng có làm ảnh hưởng đến thời lượng phân phối chương trình của tiết học không? Không làm ảnh hưởng nếu giáo viên giao nhiệm vụ chuẩn bị bài chu đáo ở nhà. Kết quả khảo sát 16 tiết dạy thực nghiệm cho thấy việc hướng dẫn học sinh tự liên tưởng trước giúp tiết kiệm 10 phút giảng giải lý thuyết của giáo viên, dành trọn 35 phút trên lớp cho các hoạt động thảo luận và đồng sáng tạo.

Độ tin cậy của kết quả thực nghiệm trong luận văn được chứng minh như thế nào? Độ tin cậy được bảo đảm qua phương pháp thực nghiệm đối chứng trên 348 học sinh tại 2 trường trung học phổ thông đại diện cho khu vực Hà Nội và Bắc Ninh. Các tham số thống kê gồm điểm trung bình thực nghiệm đạt 7,42 so với đối chứng 6,18 với mức sai số p dưới 0,05 đã kiểm chứng tính chính xác tuyệt đối của đề tài.

Biện pháp rèn luyện kỹ năng liên tưởng trong luận văn có thể áp dụng cho các thể loại văn học khác không? Quy trình 3 bước khơi gợi liên tưởng hoàn toàn có thể mở rộng cho các thể loại truyện ngắn, ký và kịch ở các khối lớp 10 và 11. Trong thực tế giảng dạy, việc kích hoạt trí tưởng tượng giúp học sinh nắm bắt bối cảnh và tâm lý nhân vật nhanh hơn 50% so với phương pháp đọc chép truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về lý thuyết tiếp nhận văn học và cơ chế tâm lý của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng trong nhà trường.
  • Khảo sát thực trạng trên 348 học sinh và 8 giáo viên, chỉ rõ 28% học sinh mắc lỗi suy diễn đơn nghĩa và 58% giáo viên gặp khó khăn khi tổ chức dạy học sáng tạo.
  • Đề xuất 3 nhóm biện pháp sư phạm đồng bộ giúp nâng tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi lên 64,5% ở nhóm lớp thực nghiệm.
  • Khẳng định tính khả thi vượt trội qua 16 tiết dạy thực nghiệm tại Trường THPT Trần Hưng Đạo và Trường THPT Hàm Long với điểm số trung bình đạt 7,42 điểm.
  • Thiết lập hệ thống dữ liệu định lượng khoa học thông qua đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra và các chỉ số phương sai chuẩn mực.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là chuyển hóa quá trình tiếp nhận thơ trữ tình thành hoạt động đồng sáng tạo, giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh chân lý nghệ thuật và bồi đắp nhân cách.

Trong giai đoạn 2013 – 2015, mô hình rèn luyện kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng cần được nhân rộng tại 100% các trường trung học phổ thông trên cả nước thông qua các đợt tập huấn chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy.

Quý thầy cô và các nhà nghiên cứu hãy áp dụng ngay các giải pháp sư phạm của luận văn vào từng bài giảng Ngữ văn để khơi dậy tiềm năng sáng tạo và tình yêu văn chương trong mỗi học sinh.