Luận văn thạc sĩ vnu ued rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

114
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Khái niệm về kỹ năng

1.2. Ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương

1.3. Ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật và đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật

1.4. Hình tượng, hình tượng nghệ thuật và đặc trưng của hình tượng nghệ thuật

1.5. Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng nghệ thuật

1.6. Năng lực và năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật

1.7. Năng lực tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

1.8. Năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình của học sinh lớp 11 THPT

1.9. Thể loại văn học

1.10. Thơ trữ tình và đặc điểm thơ trữ tình

1.11. Thơ trữ tình

1.12. Đặc điểm thơ trữ tình

1.13. Yêu cầu luyện tập kỹ năng cho học sinh

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN DẠY HỌC VÀ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG TRI GIÁC NGÔN NGỮ, TÁI HIỆN HÌNH TƯỢNG TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH Ở LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Khảo sát khả năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng thơ trữ tình của học sinh

2.2. Mục đích khảo sát

2.3. Đối tượng khảo sát

2.4. Phương pháp khảo sát

2.5. Nội dung khảo sát

2.6. Thời gian, địa điểm khảo sát

2.7. Kết quả khảo sát

2.8. Kết luận về năng lực tri giác ngôn ngữ, tái hiện hình tượng nghệ thuật trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 THPT

2.9. Biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông

2.10. Những yêu cầu có tính nguyên tắc

2.11. Một số biện pháp rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Yêu cầu thực nghiệm

3.3. Địa bàn, đối tượng và bài thực nghiệm

3.4. Nội dung và tiến trình thực nghiệm

3.5. Nội dung thực nghiệm

3.6. Tiến trình thực nghiệm

3.7. Giáo án thực nghiệm

3.8. Kết quả thực nghiệm

3.9. Tiêu chí đánh giá

3.10. Kết quả thu được

3.11. Kết luận rút ra qua thực nghiệm

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Rèn Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ Trong Dạy Thơ Trữ Tình

Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc dạy học thơ trữ tình ở lớp 11. Kỹ năng này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về ngôn ngữ nghệ thuật mà còn tạo điều kiện cho việc tái hiện hình tượng trong tác phẩm. Việc phát triển kỹ năng tri giác ngôn ngữ sẽ giúp học sinh tiếp cận tác phẩm một cách sâu sắc hơn, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

1.1. Khái niệm về Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ

Kỹ năng tri giác ngôn ngữ là khả năng nhận diện và hiểu biết về ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn học. Điều này bao gồm việc phân tích các yếu tố ngôn ngữ, hình tượng và cảm xúc mà tác giả muốn truyền tải.

1.2. Vai trò của Ngôn Ngữ Trong Thơ Trữ Tình

Ngôn ngữ trong thơ trữ tình không chỉ là phương tiện truyền đạt thông điệp mà còn là công cụ tạo ra hình tượng nghệ thuật. Việc hiểu rõ ngôn ngữ sẽ giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp và chiều sâu của tác phẩm.

II. Thách Thức Trong Việc Dạy Thơ Trữ Tình Ở Lớp 11

Việc dạy thơ trữ tình ở lớp 11 gặp nhiều thách thức, từ việc học sinh thiếu hứng thú đến việc giáo viên chưa áp dụng phương pháp dạy học hiệu quả. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao chất lượng dạy học.

2.1. Học Sinh Thiếu Hứng Thú Với Thơ

Nhiều học sinh cảm thấy chán nản khi học thơ trữ tình do phương pháp giảng dạy chưa hấp dẫn. Điều này dẫn đến việc các em không thể tiếp cận và cảm nhận được giá trị của tác phẩm.

2.2. Phương Pháp Dạy Học Chưa Đổi Mới

Nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, chỉ tập trung vào việc phân tích nội dung mà không chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng tri giác ngôn ngữ cho học sinh.

III. Phương Pháp Rèn Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ Trong Dạy Thơ

Để rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn phát triển khả năng tư duy sáng tạo.

3.1. Sử Dụng Phương Pháp Học Tập Tích Cực

Phương pháp học tập tích cực khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học, từ đó giúp các em phát triển kỹ năng tri giác ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả.

3.2. Tích Hợp Công Nghệ Thông Tin Trong Dạy Học

Việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học sẽ tạo ra môi trường học tập sinh động, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và cảm nhận được vẻ đẹp của thơ trữ tình.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ Trong Dạy Thơ

Việc áp dụng kỹ năng tri giác ngôn ngữ trong dạy thơ trữ tình đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn phát triển khả năng cảm thụ văn học một cách sâu sắc.

4.1. Kết Quả Khảo Sát Năng Lực Tri Giác Ngôn Ngữ

Kết quả khảo sát cho thấy học sinh có khả năng tri giác ngôn ngữ tốt hơn khi được rèn luyện đúng phương pháp. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng này trong dạy học.

4.2. Tác Động Tích Cực Đến Kết Quả Học Tập

Việc rèn luyện kỹ năng tri giác ngôn ngữ không chỉ giúp học sinh hiểu bài tốt hơn mà còn nâng cao kết quả học tập trong môn Ngữ văn.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Rèn Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ

Rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ trong dạy thơ trữ tình là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Tương lai của việc dạy học này phụ thuộc vào sự đổi mới phương pháp và sự tích cực của cả giáo viên và học sinh.

5.1. Định Hướng Phát Triển Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ

Cần có những định hướng rõ ràng trong việc phát triển kỹ năng tri giác ngôn ngữ, từ đó nâng cao chất lượng dạy học thơ trữ tình.

5.2. Tăng Cường Đào Tạo Giáo Viên

Đào tạo giáo viên về phương pháp dạy học hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy và phát triển kỹ năng tri giác ngôn ngữ cho học sinh.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued rèn kỹ năng tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình ở lớp 11 trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu thì sẽ không cảm nhận được một cái tôi Huy Cận cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn. Như vậy, tính hình tượng là sự hiện thực hóa chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật. Tính hình tượng nảy sinh ra do việc sử dụng các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ…. Tuy nhiên, có những từ thông thường, không có tính hình tượng cũng có thể trở thành những từ có tính hình tượng khi các từ này mang cá tính của chủ thể tác giả.

Tính truyền cảm được xem là một phương diện của tính hình tượng vì nó là thông tin cảm xúc từ hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật. Khả năng tác động của ngôn ngữ nghệ thuật là trạng thái có khả năng thanh lọc cảm xúc thông thường trở thành giá trị tinh thần, tạo nên thế giới tâm hồn con người. Tính truyền cảm tạo nên quá trình tác động thẩm mỹ, kích thích tưởng tượng và cảm xúc một cách có định hướng rõ rệt, giúp con người có khả năng tự ý thức, tự soi chiếu. Điều này phụ thuộc vào năng lực riêng của mỗi cá nhân.

Khả năng truyền cảm của ngôn ngữ nghệ thuật có đạt được đến đích cuối cùng của nghệ thuật hay không còn phụ thuộc tư chất, trình độ học vấn, vốn trải nghiệm… của từng người. Đặc tính này định hướng cho giáo viên Ngữ văn cần chú ý phân định đối tượng tiếp nhận trong quá trình dạy học. Từng bước hướng dẫn các đối tượng tham gia quá trình tiếp nhận ở các mức độ khác nhau. Tính cá thể hóa của ngôn ngữ nghệ thuật.

Tính cá thể hóa của ngôn từ nghệ thuật là dấu ấn phong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật. Mỗi nhà văn do xu hướng, sở trường, thị hiếu, tập quán, tâm lý xã hội, cá tính mà có giọng nói riêng. Đó là cái độc đáo, đặc sắc, không lặp lại, cái riêng của tất cả 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các yếu tố trong sáng tác.Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc rất đậm đà.

Về ngôn ngữ, Tố Hữu không chú ý sáng tạo những từ mới, cách diễn đạt mới mà ông thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc. Cái giọng nói riêng ấy để dấu ấn trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ thông qua lối cảm, lối nghĩ, lối thể hiện mà cụ thể là cách lựa chọn, kết hợp cụ thể các chi tiết; cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, thủ pháp tu từ… Sự giải thích phong cách ngôn ngữ một nhà văn đòi hỏi sự phân tích những cấu trúc vốn làm thành và xác định hệ thống. Rèn năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng cho học sinh là phải rèn được cách khám phá cái độc đáo, không lặp lại làm nên phong cách riêng đó. Tính cụ thể hóa ngôn ngữ nghệ thuật.

Tính cụ thể hóa ngôn ngữ nghệ thuật là thuộc tính chung nhất, khái quát nhất nhằm giải thích bản chất của sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, bản chất sáng tạo thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật. Sự cụ thể hóa nghệ thuật hình tượng là sự di chuyển từ bình diện khái niệm của ngôn ngữ sang bình diện hiện tượng. Nghệ thuật không nói bằng khái niệm mà bằng hình ảnh, sự vật cụ thể. Những hình ảnh, sự vật được xây dựng nên từ việc “chưng cất ngôn từ toàn dân” đặt vào ngữ cảnh của tác phẩm để tạo nên hình tượng nghệ thuật.

Tính cụ thể hóa ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở việc nhà văn thường sử dụng những từ ngữ có sức gợi hình ảnh, cách sử dụng các biện pháp tu từ, sử dụng kết cấu, sử dụng các hình thức giao tiếp đối thoại, các phương thức biểu đạt… để tạo thành hình tượng cụ thể tác động vào trí tưởng tượng của người đọc. Nhà văn cũng có thể sử dụng các biện pháp trùng điệp ở các cấp độ để xoáy sâu ý tình, hình tượng quan trọng. Đặc biệt, trong thơ tính trùng điệp góp phần quan trọng tạo nên âm điệu, nhạc tính cho câu thơ, khổ thơ. Điều này được thể hiện rất rõ trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

Xuân Diệu đã 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo ra nhạc điệu đặc biệt của bài thơ này bằng nhiều thủ pháp đa dạng, chúng hòa nhập với nhau rất ăn ý và nhuần nhuyễn. Trước hết, cả bài thơ được tổ chức thành một lời bộc bạch khá trực tiếp. Y như đang có đối tượng giao tiếp ngay trước mặt, còn chủ thể thì đang nhiệt thành phơi trải lòng mình một cách say sưa, phấn chấn. Lời thơ vì thế có rất nhiều yếu tố của văn bản nói: cách tranh biện hăng hái “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn- Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”, sử dụng mật độ dày những từ ngữ nghiêng về khẩu ngữ: từ để trỏ, tạo nhịp điệu cho những động thái của chủ thể (Này đây….Này đây), lối cắt nghĩa liên tục (Nghĩa là…nghĩa là), liên từ dùng với mức độ dày (Và…và…và)… Nhưng phổ biến nhất là sử dụng thủ pháp trùng điệp, gồm cả điệp cú, điệp ngữ, điệp từ….Thủ pháp trùng điệp dùng rất linh hoạt, biến hóa chứ không hề đơn điệu, khiến cho mạch thơ tuôn chảy rất tự nhiên.

Điệp lại các kiểu câu (bộc bạch ao ước: Tôi muốn tắt nắng đi – Cho màu đừng nhạt mất- Tôi muốn buộc gió lại - Cho hương đừng bay đi. Xác định sở hữu: Của….này đây, đảo lại: Này đây…của, rồi nhấn mạnh Và này đây …Hay lối cắt nghĩa: Xuân đang tới nghĩa là…Xuân còn non nghĩa là…). Điệp lại các cụm từ, các từ: Ta muốn, cho, và… Như vậy người đọc muốn nhìn ra cách lựa chọn, tổ chức các phương tiện ngôn ngữ và giá trị tiềm tàng của nó bắt buộc phải đọc tác phẩm văn học một cách kỹ lưỡng để tri giác ngôn ngữ tốt, tái hiện hình tượng được hoàn chỉnh. Hình tượng, hình tượng nghệ thuật và đặc trưng của hình tượng nghệ thuật Mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau sẽ có quan niệm về hình tượng khác nhau.

Trong nhận thức luận, khái niệm “hình tượng” chỉ những kết quả từ hoạt động nhận thức của con người và độc lập với hình thức của hình tượng. Trong tâm lý học, người ta đưa ra khái niệm về hình tượng là sự phản ánh thực tế một cách cụ thể cảm tính. Trong nghiên cứu văn học, hình tượng 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là khái niệm được xem xét ở nhiều khía cạnh: Hình tượng như là một chi tiết có màu sắc, hình ảnh, một ẩn dụ hoặc một hình thức chuyển nghĩa khác gắn với nghĩa bóng; hình tượng như là một nhân vật văn học; hình tượng như là một kiểu nhận thức và phản ánh thế giới khách quan một cách đặc biệt. Trong nghệ thuật, nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình thông qua hình tượng nghệ thuật.

Như vậy, hình tượng nghệ thuật là một bức tranh về cuộc sống con người. Bức tranh vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa có tính chủ quan lẫn tính khách quan, được xây dựng bằng hư cấu, tưởng tượng, có giá trị thẩm mỹ, có ý nghĩa nhân sinh. Hình tượng nghệ thuật là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng, sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật. Nó tác động tới con người với tất cả “tính thực tại” tinh thần của nó.

Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho con người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng. Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sỹ. Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, bộc lộ cái bên trong, cái bản chất của sự vật, hé mở những nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn. Nghĩa là hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mỹ của nghệ thuật.

Như vậy, tổ chức cho học sinh tiếp nhận văn học, thầy cần giúp trò tri giác cho ra “điểm sáng thẩm mỹ”, những chi tiết “biết nói” mà nhà văn đã chọn lọc, sáng tạo để xây dựng hình tượng, tái hiện lại hình tượng để từ đó lần ra ý nghĩa tác phẩm. Cuộc sống trong tác phẩm nghệ thuật “hiện hình qua pho tượng nhưng không chết cứng cùng khối đá, hiện hình qua bức tranh nhưng không bị đóng khung trên mặt vải, hiện hình qua bài thơ nhưng không chấm hết cùng bài thơ(…) từ một số chi tiết ít ỏi mà gợi lên rõ ràng một chỉnh thể toàn vẹn” [18, 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều này tạo nên tính sinh động và biến hóa bất ngờ của hình tượng nghệ thuật. Nó tạo cho hình tượng nghệ thuật có sức truyền cảm mạnh mẽ, sức thức tỉnh tư tưởng lớn lao và lôi cuốn con người tham gia vào đời sống xã hội.

Như vậy, để phát triển năng lực tiếp nhận văn học cho học sinh, người thầy cần “tích cực hóa” khả năng cảm thụ văn học của các em; giúp các em xúc cảm trước vẻ đẹp của hình tượng để từ đó hoàn thiện quá trình tự nhận thức của bản thân. Biểu hiện của “tích cực hóa”, trước hết là tái hiện hoàn chỉnh được tính sinh động của hình tượng trong trí tưởng tượng của người học. Cấu trúc của hình tượng nghệ thuật không đơn giản là sự thống nhất giữa cái cá biệt, cảm tính với cái chung, mà ở chỉnh thể các quan hệ xã hội – thẩm mĩ được thể hiện. Đó là quan hệ giữa thời gian nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh; quan hệ của tác giả với cuộc sống trong tác phẩm, với người đọc; quan hệ hình tượng với ngôn ngữ; quan hệ của các yếu tố của bức tranh đời sống… Phức hợp quan hệ này làm hình tượng nghệ thuật mang nội dung đa nghĩa, hàm súc, lời hết mà ý vô cùng.

Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu không phải là một bài thơ tình đơn thuần. Bài thơ là tiếng nói yêu đời, yêu cuộc sống, thể hiện một quan điểm nhân sinh, quan điểm thẩm mĩ mới mẻ hiếm thấy, những triết luận sâu xa nhưng đầy cảm xúc. Mỗi loại hình nghệ thuật ngôn từ không phải là một thực thể vật thể mà là một hệ thống ký hiệu ngôn ngữ. Do đó, hình tượng ngôn từ ít tính biểu hiện thị giác so với hình tượng nghệ thuật tạo hình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Rèn Kỹ Năng Tri Giác Ngôn Ngữ Trong Dạy Thơ Trữ Tình Lớp 11" cung cấp những phương pháp hiệu quả để phát triển kỹ năng tri giác ngôn ngữ cho học sinh trong việc tiếp cận và phân tích thơ trữ tình. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rèn luyện khả năng cảm thụ văn học, giúp học sinh không chỉ hiểu sâu sắc hơn về nội dung và hình thức của tác phẩm mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng sáng tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Tài liệu đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng thẩm mỹ trong giảng dạy thơ. Bên cạnh đó, tài liệu "Luận văn thạc sĩ vnu ued rèn kỹ năng liên tưởng tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12" cũng sẽ giúp bạn khám phá thêm về kỹ năng liên tưởng và tưởng tượng trong dạy học thơ. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới cho việc giảng dạy văn học.