Tổng quan nghiên cứu

Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông, các tác phẩm thơ trữ tình hiện đại chiếm tỷ trọng từ 30% đến 40% thời lượng của phân môn Đọc hiểu văn bản. Mặc dù các tác phẩm được tuyển chọn như Vội vàng của Xuân Diệu hay Tràng giang của Huy Cận đều đạt trình độ nghệ thuật đỉnh cao, thực tế giảng dạy cho thấy hơn 50% học sinh vẫn tiếp nhận thụ động, tẻ nhạt và chưa cảm nhận được chiều sâu tư tưởng. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là khắc phục lối truyền thụ một chiều bằng việc trang bị phương pháp tự học thông qua rèn luyện kỹ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng thơ ca cho học sinh.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng sư phạm và đề xuất hệ thống biện pháp thực nghiệm nhằm bồi dưỡng năng lực tiếp nhận thơ trữ tình cho học sinh lớp 11. Nghiên cứu được triển khai khảo sát thực địa trong tháng 1 và tháng 2 năm 2012 tại 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương gồm Trường Trung học phổ thông Kinh Môn, Trường Trung học phổ thông Kinh Môn II và Trường Trung học phổ thông Phúc Thành.

Ý nghĩa của đề tài góp phần hiện thực hóa định hướng đổi mới căn bản phương pháp giáo dục được quy định tại Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và Điều 28.2 Luật Giáo dục năm 2005. Luận văn cung cấp giải pháp sư phạm khả thi giúp nâng cao tỷ lệ học sinh khá giỏi trong phân môn Ngữ văn lên hơn 25%, giảm tỷ lệ cảm thụ sai lệch văn bản xuống dưới 10%, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình tự học suốt đời.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp của 2 hệ thống lý thuyết nền tảng trong khoa học giáo dục và văn học: Lý thuyết tiếp nhận văn học hiện đại của Giáo sư Phan Trọng Luận kết hợp quan điểm sư phạm của Phó Giáo sư Nguyễn Viết Chữ, và Lý thuyết thi pháp học về ngôn ngữ nghệ thuật của Giáo sư Đỗ Hữu Châu, Giáo sư Đinh Trọng Lạc cùng Giáo sư Trần Đình Sử.

Mô hình nghiên cứu vận hành xung quanh 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  • Kỹ năng tiếp nhận văn học: Khả năng vận dụng hệ thống tri thức ngôn từ vào hoạt động thực tiễn để giải mã văn bản nghệ thuật.
  • Ngôn ngữ nghệ thuật: Hệ thống ký hiệu thẩm mỹ mang tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa và tính cụ thể hóa cao độ.
  • Hình tượng nghệ thuật: Khách thể đời sống được nhà thơ tái tạo bằng hư cấu, cảm xúc và ngôn từ nhằm truyền tải thông điệp nhân sinh.
  • Năng lực tri giác ngôn ngữ: Thao tác nhận diện, phát hiện điểm sáng thẩm mỹ, từ thần, nhịp điệu và các phương thức tu từ trong văn bản.
  • Năng lực tái hiện hình tượng: Thao tác tư duy dùng trí tưởng tượng để dựng lại không gian, thời gian và thế giới tâm hồn của chủ thể trữ tình.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ 43 câu hỏi hướng dẫn bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, 15 giáo án giảng dạy thực tế và phiếu điều tra chuyên sâu từ 33 giáo viên tổ Ngữ văn thuộc 3 trường Trung học phổ thông tại Hải Dương. Cỡ mẫu học sinh được lựa chọn khảo sát và thực nghiệm gồm 6 lớp khối 11 với hơn 240 học sinh. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu cụm ngẫu nhiên và phân tầng tương đương về năng lực học tập nhằm đảm bảo tính khách quan cho kết quả đối chứng.

Phương pháp phân tích được lựa chọn gồm phân tích lý luận, điều tra xã hội học giáo dục, thực nghiệm sư phạm đối chứng và thống kê toán học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là để lượng hóa chính xác mức độ chuyển biến của học sinh, kiểm chứng độ tin cậy của các biện pháp can thiệp. Tiến trình nghiên cứu được triển khai liên tục từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2012 theo 3 giai đoạn: khảo sát thực trạng, soạn thảo giáo án thực nghiệm và đo lường kết quả sau thực nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Ngữ văn 11: Trong tổng số 43 câu hỏi hướng dẫn của 11 bài thơ trữ tình hiện đại, có 17 câu hỏi định hướng tri giác ngôn ngữ (chiếm 39,5%) nhưng chỉ có 5 câu hỏi rèn luyện kỹ năng tái hiện hình tượng (chiếm tỷ lệ rất thấp 11,6%). Đáng chú ý, các bài thơ lớn như Vội vàng của Xuân Diệu hay Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu hoàn toàn có 0% câu hỏi hướng dẫn tái hiện hình tượng.

Khảo sát thực tế giáo án giảng dạy: Trong 15 giáo án được thu thập tại 3 trường Trung học phổ thông, có tới 53,3% giáo án (8 giáo án) chưa chú trọng rèn luyện năng lực tri giác ngôn ngữ và tái hiện hình tượng, chỉ có 46,7% giáo án (7 giáo án) thể hiện rõ nét định hướng này.

Khảo sát nhận thức của 33 giáo viên trực tiếp giảng dạy:

  • Có 63,6% giáo viên (21 thầy cô) thừa nhận chỉ thỉnh thoảng mới quan tâm đến nhạc tính, vần điệu và cấu trúc ngôn từ trong giờ dạy thơ.
  • Có 54,5% giáo viên chỉ sử dụng biện pháp đọc diễn cảm một lần duy nhất vào đầu tiết học, trong khi chỉ có 21,2% giáo viên duy trì hoạt động đọc diễn cảm xuyên suốt bài giảng.
  • Hơn 51,5% giáo viên vẫn giữ thói quen khai thác bài thơ theo lối truyền thống là đi từ nội dung trước hoặc tách rời tuyệt đối giữa nội dung và hình thức nghệ thuật.

Khảo sát năng lực của học sinh: Trên 50% học sinh rơi vào tình trạng tri giác ngôn ngữ vụn vặt, không nhận diện được điểm sáng thẩm mỹ và gặp lúng túng khi chuyển hóa ngôn từ thành bức tranh tâm cảnh của nhân vật trữ tình.

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa rõ ràng qua bảng thống kê tần suất câu hỏi sách giáo khoa, bảng phân loại chất lượng giáo án và bảng tổng hợp phản hồi từ 33 phiếu khảo sát giáo viên, giúp trực quan hóa khoảng cách giữa lý thuyết đổi mới và thực hành sư phạm.

Nguyên nhân chính của thực trạng trên là do giáo viên bị áp lực về khung thời gian 45 phút của tiết học, quen lối diễn giảng áp đặt từ trên xuống và thiếu bộ công cụ câu hỏi dẫn dắt mang tính trực quan. Về phía học sinh, vốn sống và vốn từ văn cảnh còn hạn chế khiến các em chỉ hiểu câu thơ theo nghĩa từ điển thuần túy.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Giáo sư Phan Trọng Luận và nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng khi chỉ ra rằng việc dạy học thơ trữ tình sẽ trở nên vô nghĩa nếu không bắt đầu từ lớp vỏ vật chất ngôn từ. Phát hiện của luận văn khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tiếp nhận văn học theo đúng đặc trưng thi pháp thể loại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng dạy học thơ trữ tình, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, tái cấu trúc hệ thống câu hỏi khám phá bài học theo hướng tích hợp tri giác và tái hiện. Giáo viên Ngữ văn cần chủ động biên soạn hệ thống câu hỏi đi từ tín hiệu hình thức (từ thần, phép điệp, nhịp thơ) đến khơi gợi trí tưởng tượng. Mục tiêu đạt tối thiểu 60% câu hỏi trong mỗi giáo án tập trung vào việc kích hoạt năng lực cảm thụ cá nhân của học sinh trong từng học kỳ.

Thứ hai, triển khai kỹ thuật đọc diễn cảm đa tầng xuyên suốt tiến trình bài học. Giáo viên bộ môn phối hợp cùng tổ chuyên môn áp dụng kỹ thuật đọc phân vai, đọc gợi mở và ngắt nhịp chính xác (như nhịp 3/3/2 hoặc 5/5 trong thơ Xuân Diệu) trong 100% tiết dạy thơ trữ tình, thay vì chỉ đọc mở đầu tiết học. Kế hoạch được thực hiện định kỳ trong suốt năm học 2012 và các năm tiếp theo.

Thứ ba, hướng dẫn học sinh giải mã nghĩa văn cảnh và dựng lại không gian nghệ thuật. Dưới sự tổ chức của giáo viên, học sinh trực tiếp thực hành phân tích các cấu trúc ngôn từ tăng tiến (ví dụ chuỗi điệp cú Ta muốn ôm, Ta muốn riết, Ta muốn say, Ta muốn thâu trong bài Vội vàng). Phấn đấu đạt mục tiêu 85% học sinh trong lớp có thể tự viết đoạn văn tái hiện bức tranh tâm cảnh của nhân vật trữ tình trong vòng 15 phút kiểm tra.

Thứ tư, đổi mới sinh hoạt chuyên môn và kiểm tra đánh giá thể loại. Ban giám hiệu và tổ chuyên môn các trường Trung học phổ thông cần tổ chức tối thiểu 2 buổi hội thảo chuyên đề mỗi học kỳ về phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại, đồng thời cơ cấu lại đề kiểm tra với ít nhất 40% điểm số dành cho kỹ năng phát hiện tín hiệu nghệ thuật và sáng tạo hình tượng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Giáo viên môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông. Luận văn giúp giáo viên nắm bắt phương pháp chuyển hóa lý thuyết tiếp nhận thành các bước lên lớp sinh động. Điển hình là việc ứng dụng trực tiếp hệ thống giáo án mẫu bài Vội vàng và Tràng giang để nâng cao chất lượng giờ dạy đọc hiểu.

Nhóm 2: Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn. Công trình cung cấp cơ sở lý luận chuẩn mực về thi pháp học và phương pháp dạy học bộ môn, đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị cho các khóa luận tốt nghiệp và đề tài nghiên cứu phương pháp dạy học văn.

Nhóm 3: Cán bộ quản lý chuyên môn và chuyên viên chỉ đạo bộ môn Ngữ văn tại các Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo. Nguồn số liệu thực chứng từ 33 giáo viên và 15 giáo án giúp cán bộ quản lý đánh giá đúng thực trạng để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên đạt hiệu quả cao.

Nhóm 4: Các tác giả biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Ngữ văn. Luận văn chỉ ra khoảng trống lớn khi câu hỏi tái hiện hình tượng chỉ chiếm 11,6%, cung cấp căn cứ thực tiễn để các nhà biên soạn thiết kế lại hệ thống câu hỏi đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ trữ tình là gì?

Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật là khả năng của học sinh trong việc nhận diện và giải mã các tín hiệu thẩm mỹ từ ngôn từ, nhịp điệu, nhạc tính và cấu trúc cú pháp của văn bản thơ. Ví dụ, khi tiếp cận bài Tràng giang của Huy Cận, học sinh có năng lực tri giác tốt sẽ nhận diện ngay sắc thái cổ điển và nỗi sầu nhân thế qua từ láy Hán Việt tràng giang cùng hình ảnh đối lập cành củi khô lạc mấy dòng.

Tại sao tái hiện hình tượng lại được coi là thao tác tư duy quyết định trong tiếp nhận thơ?

Hình tượng thơ ca mang tính phi hình thể, chỉ tồn tại dưới dạng hệ thống ký hiệu ngôn từ trừu tượng. Nếu học sinh không kích hoạt trí tưởng tượng tái hiện để hình dung ra diện mạo, cảnh sắc và tâm trạng nhân vật trữ tình thì tác phẩm chỉ là những con chữ bất động. Hoạt động tái hiện giúp học sinh thấu thị thế giới bên trong của tác phẩm, biến rung cảm của nhà thơ thành trải nghiệm thẩm mỹ của chính mình.

Thực trạng dạy học thơ trữ tình lớp 11 hiện nay gặp phải những rào cản lớn nào?

Khảo sát 15 giáo án và 33 giáo viên tại Hải Dương chỉ ra rằng 53,3% giáo án chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng tiếp nhận, 63,6% giáo viên chỉ thỉnh thoảng chú ý đến từ ngữ và nhạc điệu. Rào cản lớn nhất là phương pháp giảng dạy còn nặng về thuyết giảng, áp đặt nội dung có sẵn và thiếu vắng các câu hỏi định hướng rèn luyện thao tác tư duy thẩm mỹ cho học sinh.

Làm thế nào để học sinh phân biệt giữa nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình?

Giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định nhân vật trong thơ là đối tượng cụ thể khơi nguồn cảm xúc cho thi sĩ (như hình tượng con hổ trong bài Nhớ rừng của Thế Lữ). Trong khi đó, nhân vật trữ tình chính là chủ thể phát ngôn, là cái tôi mang dòng cảm xúc, tư tưởng xuyên suốt bài thơ. Việc phân biệt này giúp học sinh tránh được sự đồng nhất cơ học giữa tác giả ngoài đời và hình tượng nghệ thuật.

Biện pháp đọc diễn cảm có vai trò thực tế như thế nào trong việc rèn luyện kỹ năng tri giác?

Đọc diễn cảm là cầu nối trực giác giúp học sinh cảm nhận tức thì âm điệu, nhịp điệu và cảm xúc bão hòa của bài thơ. Khi được giáo viên tổ chức đọc xuyên suốt bài học thay vì chỉ thực hiện 21,2% như thực trạng khảo sát, việc ngắt đúng nhịp 3/3/2 hoặc nhịp biến thể 5/5 sẽ giúp người học chạm vào mạch cảm xúc say đắm, vội vàng của nhà thơ một cách tự nhiên và sâu sắc nhất.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về kỹ năng tri giác ngôn ngữ nghệ thuật và tái hiện hình tượng trong dạy học thơ trữ tình lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực tiếp nhận.
  • Đánh giá trung thực thực trạng sư phạm qua khảo sát 33 giáo viên, 15 giáo án và học sinh tại 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 2012.
  • Xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm 4 bước gắn liền đặc trưng thi pháp thể loại thơ ca với quy trình tổ chức hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh.
  • Kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả vượt trội của các biện pháp đề xuất thông qua tiến trình thực nghiệm sư phạm đối chứng chặt chẽ.
  • Cung cấp nguồn tài liệu thiết kế giáo án thực nghiệm chi tiết cho các bài thơ kinh điển như Vội vàng của Xuân Diệu và Tràng giang của Huy Cận để giáo viên ứng dụng trực tiếp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuyển hóa thành công lý thuyết tiếp nhận văn học thành quy trình sư phạm cụ thể, giúp học sinh phổ thông làm chủ phương pháp tự học và tự giải mã văn bản nghệ thuật. Trong thời gian từ 3 đến 6 tháng tới, các nhà trường cần đẩy mạnh việc nhân rộng mô hình thiết kế bài giảng này cho toàn bộ chương trình Ngữ văn cấp Trung học phổ thông.

Quý thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu phương pháp và các bạn học viên hãy tham khảo, vận dụng ngay những phát kiến từ luận văn để đổi mới phương pháp giảng dạy, khơi dậy tình yêu thơ ca và nâng cao năng lực thẩm mỹ cho thế hệ học sinh tương lai!