Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về QLNN đối với xuất xứ các mặt hàng thực phẩm tại các siêu thị trên địa bàn Hà Nội. Một số vấn đề lý luận về QLNN đối với xuất xứ các mặt hàng thực phẩm tại các siêu thị trên địa bàn Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu và phân tích thực trạng QLNN đối với xuất xứ các mặt hàng thực phẩm tại các siêu thị trên địa bàn Hà Nội.
Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối với xuất xứ các mặt hàng thực phẩm tại các siêu thị trên địa bàn Hà Nội. 7 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XUẤT XỨ CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM TẠI CÁC SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về QLNN đối với xuất xứ các mặt hàng thực phẩm 2. Khái niệm Thực phẩm là một trong những sản phẩm quan trọng đối với con người, tuy nhiên, đề cập đến khái niệm về thực phẩm thì có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo Codex thì “Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như mỹ phẩm”. Theo Pháp lệnh số 12/2003/PL-UBTVQH11 ngày 26/7/2003 của ủy ban thường vụ quốc hội về vệ sinh an toàn thực phẩm thì “thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản. Có nhiều khái niệm khác nhau về thực phẩm nhưng hiện nay nhiều người thống nhất với khái niệm: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”.
Phân loại hàng thực phẩm Thực phẩm được phân loại theo nhiều cách khác nhau, có thể kể đến các cách phân loại như sau: - Phân loại theo nguồn gốc thực phẩm là cách phân loại thực phẩm dựa vào nguồn gốc của thực phẩm đó, ta có thể phân chia thành hai loại thực phẩm từ động vật và thực phẩm từ thực vật. 1 Luật an toàn thực phẩm 2010 8 Thực phẩm từ động vật là những thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như trứng, thịt, cá, sữa,… Thực phẩm từ thực vật là những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật như rau, củ, quả,… - Phân loại theo giới hạn lãnh thổ quốc gia bao gồm thực phẩm nội địa và thực phẩm nhập khẩu. Thực phẩm nội địa là thực phẩm được sản xuất, kinh doanh trong nước. Các thực phẩm này thương mang đặc trưng của từng vùng, miền trong nướcvà có thể tồn tại dưới hình thức tươi sống hoặc qua chế biến, nhưng đều chịu sự quản lý bằng các văn bản quản lý hàng hóa trong nước.
Khi siêu thị kinh doanh những thực phẩm này đều phải tuân thủ các quy định về xuất xứ hàng hóa kinh doanh trên thị trường nội địa, về VSATP, chất lượng hàng hóa trong nước,… Thực phẩm nhập khẩu là những thực phẩm được sản xuất ở các nước trên thế giới và được kinh doanh trong thị trường nội địa. Thông thường, các thực phẩm nhập khẩu sẽ được quản lý chặt chẽ bởi nhiều quy định khác nhau như: quy tắc xuất xứ hàng thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng, VSATTP,… Những loại thực phẩm này khi đi vào siêu thị, đầu tiên sẽ chịu sự kiểm tra và quản lý của Tổng cục Hải quan hoặc các Chi cục Hải quan địa phương. - Phân loại theo tình trạng tác động của con người bao gồm có thực phẩm tươi sống và thực phẩm qua chế biến. Thực phẩm tươi sống là những thực phẩm chưa bị con người tác động vào.
Đây là “thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến”. Thực phẩm đã qua chế biến tức là các thực phẩm đã được con người tác động vào theo chủ đích. Ví dụ: bánh kẹo, đồ hộp, nước giải khát, các món ăn chế biến trực tiếp,… - Phân loại thực phẩm theo tình trạng bảo quản bao gồm thực phẩm không có bao bì bao gói và thực phẩm có bao bì bao gói. 9 Thực phẩm không có bao bì bao gói: là những thực phẩm được bán trực tiếp cho NTD được trưng bày trên các kệ hàng, giá hàng hoặc các thiết bị bảo quản khác mà không cần phải đóng gói.
Ví dụ: rau, củ, quả, thịt, cá,… hoặc các món ăn được chế biến trực tiếp tại siêu thị. Các loại thực phẩm này không yêu cầu ghi nhãn mác nhưng phải ghi các thông tin về xuất xứ lên các kệ hàng, giá hàng. Thực phẩm có bao bì, bao gói: là những thực phẩm được bảo quản và đóng gói. Các loại thực phẩm này phải có nhãn mác và một nội dung bắt buộc là ghi thông tin về xuất xứ hàng hóa hoặc đối với hàng sản xuất tiêu thụ ở Việt Nam thì chỉ cần ghi thông tin tên và địa chỉ nơi sản xuất thay cho thông tin xuất xứ hàng hóa.
- Hoặc theo Luật an toàn thực phẩm năm 2010 thì có một số loại thực phẩm như sau: “Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng. Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học. Thực phẩm biến đổi gen là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen. Thực phẩm đã qua chiếu xạ là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn phóng xạ để xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm.
Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự. Thực phẩm bao gói sẵn là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay”2. 2 Luật an toàn thực phẩm 2010 1 0 Như vậy, theo các cách tiếp cận khác nhau thì thực phẩm sẽ được chia thành nhiều loại. Xuất xứ hàng hóa 2.
Khái niệm về xuất xứ hàng hóa Theo Hiệp định WTO về Quy tắc xuất xứ năm 1995, nước xuất xứ là nước nơi hàng hoá thu được toàn bộ hoặc, trong trường hợp có hai nước trở lên tham gia vào quá trình sản xuất, là nước diễn ra sự chuyển đổi cơ bản cuối cùng. Sự chuyển đổi cơ bản được thể hiện bằng ba tiêu chí chính là chuyển đổi mã số hàng hoá, tỉ lệ phần trăm của giá trị và công đoạn gia công chế biến cụ thể. Theo Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hoá thì "Xuất xứ hàng hoá" là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó. Như vậy, xuất xứ hàng hóa được hiểu là một nước hoặc một vùng nào đó thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc thực hiện khâu cuối cùng hoàn thiện sản phẩm.
Các quy định về xuất xứ hàng hóa Quy tắc xuất xứ của WTO Theo Hiệp định WTO về Quy tắc xuất xứ năm 1995, Quy tắc xuất xứ là luật lệ và các quyết định hành chính về việc áp dụng chung đối với nguồn gốc xuất xứ của một sản phẩm cụ thể, chẳng hạn như nơi sản phẩm trải qua quá trình chuyển đổi cơ bản. Nói cách khác, đó là một tập hợp các nguyên tắc nhằm xác định giá trị kinh tế và quốc tịch của sản phẩm. Hiệp định WTO về Quy tắc xuất xứ nhằm đưa ra các quy tắc xuất xứ rõ ràng, dễ dự đoán và việc áp dụng chúng nhằm thuận lợi hoá thương mại quốc tế. Hiệp định này cũng nhằm đảm bảo rằng các quy tắc xuất xứ tự bản thân chúng không tạo ra những cản trở thương mại không cần thiết, nhằm làm minh bạch hoá luật lệ và 1 1 các thông lệ liên quan đến các quy tắc xuất xứ.
Tất cả các nước thành viên WTO hoặc những nước sẽ là thành viên WTO phải tuân thủ các nguyên tắc này. Quy tắc xuất xứ của WTO sẽ điều chỉnh cho các thực phẩm nhập khẩu, nhằm phân biệt được các loại hàng hóa nói chung và thực phẩm nói riêng để xác định hàng hóa đó có được hưởng ưu đãi thương mại hay không; để xác định hạn ngạch nhập khẩu; và để áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ. Quy tắc xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu theo Luật Thương mại Việt Nam Với những nguyên tắc và yêu cầu của quy tắc xuất xứ hàng hóa của WTO, Việt Nam cũng đã xây dựng các quy tắc xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu. Quy tắc xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu được quy định trong Luật Thương mại 2005 và quy định rõ ở Nghị định Quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hoá số: 19 /2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006.
Theo nghị định sẽ có hai loại quy tắc xuất xứ là quy tắc xuất xứ ưu đãi và quy tắc xuất xứ không ưu đãi. - Quy tắc xuất xứ ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa có thoả thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi về phi thuế quan. - Quy tắc xuất xứ không ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa không được ưu đãi và trong các trường hợp áp dụng các biện pháp thương mại không ưu đãi về đối xử tối huệ quốc, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan, mua sắm chính phủ và thống kê thương mại. Trong đó, quy tắc xuất xứ ưu đãi dễ dàng thực hiện còn quy tắc xuất xứ không ưu đãi phức tạp hơn.
Do đó, Nghị định đã quy định rất cụ thể và chi tiết quy tắc xuất xứ không ưu đãi.