Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của Thanh tra an toàn thực phẩm Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra an toàn thực phẩm Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Thanh tra an toàn thực phẩm Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh. 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA AN TOÀN THỰC PHẨM BAN QUẢN LÝ AN TOÀN THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
QUAN NIỆM VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Thanh tra an toàn thực phẩm 1. Các khái niệm liên quan đến thanh tra an toàn thực phẩm * Khái niệm thanh tra Hoạt động thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc La tinh (inspectorate) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”.
Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”. Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định. Quan niệm về thanh tra hiện nay cũng như trong lịch sử nước ta được thể hiện qua mô hình các cơ quan nhà nước, các quy định của Hiến pháp, pháp luật và được đề cập ở các góc độ khác nhau. Thời kỳ phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được áp dụng, nhưng các triều đại Lý, Trần, Lê có cơ quan gọi là Ngự sử đài, có chức năng giống như cơ quan Thanh tra Chính phủ hiện nay và Quan ngự sử đứng đầu Ngự sử đài tương đương như Tổng Thanh tra Chính phủ.
Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Quan ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián Vua. Thời Lê có hàm Gián nghị đại phu phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật. Gián nghị đại phu có quyền can gián nhà Vua trong những việc nên làm và những việc không nên làm [19].
7 Luan van Từ khi nhà nước mới được thành lập, hoạt động thanh tra ngày càng được coi trọng, khái niệm thanh tra được quy định trong các văn bản pháp lý khác nhau. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta chưa sử dụng thuật ngữ “thanh tra”, hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, mà quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho an thường vụ của Nghị viện. Ngày 23/11/1945, chỉ sau gần ba tháng từ khi Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 64-SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt. Từ đây thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ.
Hiến pháp năm 1959 cũng đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định QLNN. Hiến pháp năm 198 đã sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan QLNN. Đến Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”.
Hiến pháp được sửa đổi năm 2 13 tiếp tục quy định về nhiệm vụ thanh tra của các cơ quan QLNN. Cụ thể, Khoản 5, Điều 96, Hiến pháp quy định, Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước”. Pháp lệnh thanh tra năm 199 , hoạt động thanh tra của các tổ chức Thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan QLNN. Đến Luật Thanh tra năm 2 4 tiếp tục quy định sự cần thiết của hoạt động thanh tra và phạm vi thanh tra.
Theo đó, cơ quan thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan QLNN cùng cấp (Điều 2). Đặc biệt, Luật Thanh tra năm 2 1 đã quy định cụ thể và toàn diện về chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước. Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với 8 Luan van việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành (Điều 3).
Điều 5 của Luật này quy định: “Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”. Luật Thanh tra năm 2 1 cũng khẳng định hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật, phòng ngừa, xử lý hành vi vi phạm; giúp cơ quan, tổ chức thực hiện đúng quy định pháp luật; góp phần nâng cao hiệu quả QLNN. Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm hoạt động thanh tra như sau: “Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định đối với việc làm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhằm kết luận đúng, sai, chỉ ra ưu điểm, khuyết điểm, trên cơ sở đó phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. * Khái niệm thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm Mục đích của QLNN, xét cho cùng là bảo đảm cho hoạt động của đối tượng quản lý tuân thủ theo các quy định của pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo điều kiện phát huy mọi năng lực sản xuất của xã hội [14, tr.
Để đạt được mục tiêu đó, một mặt Nhà nước phải tăng cường các biện pháp nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý. Mặt khác, bản thân các cơ quan nhà nước cũng phải thường xuyên hoàn thiện, kịp thời phát hiện và xử lý, khắc phục những hạn chế, yếu kém phát sinh trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước và ngăn chặn, xử lý các những hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến trật tự quản lý. 9 Luan van Tương ứng với hai nhiệm vụ này là hai loại hình của hoạt động thanh tra gồm thanh tra hành chính (hướng vào xem xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền nằm trong hệ thống bộ máy quản lý) và thanh tra chuyên ngành (hướng ra ngoài xã hội, nhằm xem xét, đánh giá, xử lý vi phạm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là những đối tượng quản lý trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật, tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyên môn về quản lý theo chuyên ngành). Luật Thanh tra năm 2 1 ra đời thay thế cho Luật Thanh tra năm 2 4 đã làm rõ và phân biệt hai khái niệm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, theo đó: Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan QLNN theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Thực tiễn cho thấy, sự xuất hiện của thanh tra chuyên ngành như là một tất yếu của quản lý, ngay từ đầu, đó là nhu cầu phải kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực QLNN. Mặc dù với tên gọi là “thanh tra” và được coi là một trong các loại hình thanh tra nhưng bản chất và các nguyên tắc hoạt động thanh tra chuyên ngành có sự khác biệt rất lớn so với thanh tra hành chính. Với quan niệm và thực tiễn hoạt động như hiện nay thì hoạt động thanh tra hành chính cần được hiểu là một loại hình hoạt động giám sát hành chính, còn thanh tra chuyên ngành thực chất là một loại hoạt động kiểm tra hành chính.
Trong trường hợp phát hiện các chủ thể có sai phạm thì áp dụng chế tài xử lý trực tiếp và kịp thời. Với quan niệm như trên, mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành có những điểm đặc thù cần nhấn mạnh hơn so với quy định về mục đích hoạt động thanh tra được quy định trong Luật Thanh tra năm 2 1. Cụ thể là nếu như mục đích hoạt động thanh tra nói chung nhấn mạnh đến vai trò là phát hiện sơ hở trong 10 Luan van cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật thì mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành tập trung vào phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực QLNN. Theo Luật An toàn thực phẩm năm 2 1 , thanh tra về ATTP là thanh tra chuyên ngành do ngành Y tế, ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngành Công Thương thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.