Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THANH TRA KIỂM TRA TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thanh tra, kiểm tra 1. Khái niệm, vai trò, nguyên tắc thanh tra, kiểm tra 1. Khái niệm về thanh tra, kiểm tra a.
Khái niệm về thanh tra: Theo nghiệp vụ công tác thanh tra - Trường công chức thanh tra: “Thanh tra xuất phát từ tiếng Latinh (In-spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”.TS Phạm Ngọc: “Thanh tra là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra nhà nước đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế - xã hội giúp cho bộ máy quản lý vận hành tốt”. (Giáo trình Thanh tra tài chính, 2012) Theo Luật Thanh tra năm 2010: “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật thanh tra và các quy định khác của pháp luật”. (Luật thanh tra, 2010) Như vậy, từ những khái niệm trên ta có thể hiểu, thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, chính sách chế độ của Nhà nước và các quy định của cơ quan, tổ chức. Khái niệm về kiểm tra Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, thì kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét".
(Từ điển Tiếng Việt, 2008) c 7 Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam biên soạn thì kiểm tra là "xem xét thực chất, thực tế". Theo Từ điển Luật học thì kiểm tra là "xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét. (Từ điển Luật học, 2010) Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Hành chính thì kiểm tra (Ph. Controle) là “Một chức năng quản lý có liên quan mật thiết với các chức năng quản lý khác, đặc biệt là với chức năng kế hoạch hoá; nó cho phép các nhà quản lý biết được các mục tiêu tổ chức có đạt được hay không hoặc đạt được như thế nào, cũng như nguyên nhân tạo nên tình hình đó, tạo ra sự linh hoạt trong hoạt động vận hành của một hệ thống”.
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra là xem xét những việc thực tế diễn ra so với những quy tắc đã định và các mệnh lệnh về quản lý đã ban ra. Tuy nhiên, kiểm tra cần được hiểu là một hoạt động của quản lý để xem xét lại mọi quyết định, mọi nghiệp vụ và kết quả thực hiện. Trên thực tế, khái niệm kiểm tra thường được sử dụng cho những công việc soát xét mang tính thứ bậc hành chính. Một số điểm giống và khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra tại Kho bạc nhà nước Thanh tra là hoạt động kiểm tra cho nên giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau: Thanh tra và kiểm tra đều có cùng mục đích là phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật, quy chế, chế độ quản lý.
góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thanh tra và kiểm tra đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình một cách chính xác, khách quan, trung thực, xử lý sai phạm. Do đó, giữa thanh tra và kiểm tra có thể có cùng nội dung hoặc phương pháp tiến hành trong những phạm vi công việc nhất định. c 8 Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra có sự khác nhau: + Về chủ thể: Chủ thể của hoạt động thanh tra và kiểm tra là không giống nhau.
Chủ thể của thanh tra là các tổ chức thanh tra chuyên trách về kiểm tra của Nhà nước. Đó là thanh tra nhà nước gồm các cơ quan thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành (thanh tra Ngân hàng, thanh tra Tài chính, Thanh tra Thuế, KBNN. Chủ thể kiểm tra rộng hơn: bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan thanh tra, Thủ trưởng các đơn vị, các tổ chức quần chúng và người lao động cũng có thể thanh tra trực tiếp kiểm tra. Về nội dung: Nội dung thanh tra thường là những vấn đề phức tạp, bao gồm những hành vi thuộc về quá khứ.
Hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động giải quyết các “tồn đọng” trong quản lý; giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với các đối tượng kiểm tra vi phạm pháp luật. Nội dung hoạt động kiểm tra thường là những vấn đề trong hiện tại, dễ nhận biết thực chất của chúng hơn. Về phạm vi: hoạt động kiểm tra diễn ra ở tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội, nó được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, ở mọi nơi với nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra thích hợp với các yêu cầu, đặc điểm, nội dung hoạt động của những đối tượng kiểm tra. Phạm vi của hoạt động thanh tra hẹp hơn.
Hoạt động thanh tra là kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh. Về thời gian: Hoạt động thanh tra thời gian thường dài hơn. Về hình thức tổ chức: Để tiến hành hoạt động thanh tra phải thành lập Đoàn và Đoàn thanh tra thực hiện trình tự thanh tra theo quy định của pháp luật. Đối với kiểm tra có thể thành lập Đoàn hoặc không cần thành lập Đoàn, có khi chỉ cần cấp dưới tự kiểm tra một hoặc một số nội dung và báo cáo kết quả bằng văn bản cho cấp trên.
Sự cần thiết và vai trò của hoạt động thanh tra, kiểm tra a. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, kiểm tra Thanh tra luôn gắn với Nhà nước, là một hoạt động không thể tách rời của cơ quan nhà nước, sự cần thiết khách quan của hoạt động thanh tra được bắt nguồn từ các lý do cơ bản sau: Thứ nhất, Thanh tra, kiểm tra là chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước. Thanh tra kiểm tra là một khâu của quá trình quản lý, có vai trò quan trọng trong việc kiểm định và đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, đề xuất biện pháp hoàn thiện cơ chế chính sách. Thứ hai, Thanh tra là phương thức đảm bảo trật tự kỷ cương trong quản lý, góp phần tăng cường pháp chế XHCN.
Hoạt động của thanh tra là phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước, vi phạm các quy tắc, quy trình của các cơ quan tổ chức; giải quyết khiếu nại tố cáo đảm bảo cho pháp luật được thực thi đúng đắn. Thứ ba, Thanh tra, kiểm tra là một phương thức góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân. Ở nước ta quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước có nghĩa vụ chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân, nhân dân thực hiện quyền kiểm tra giám sát thông qua nhiều con đường, trong đó có hoạt động các cơ quan nhà nước do mình bầu ra, và thông qua quyền trực tiếp khiếu nại tố cáo, hoạt động của các cơ quan thanh tra là một phương thức đảm bảo các quyền dân chủ này. Vai trò của hoạt động thanh tra, kiểm tra Một là, Bảo đảm an toàn hệ thống KBNN Trong hệ thống tài chính quốc gia, KBNN giữ vai trò quan trọng và đảm nhiệm chức năng quản lý các quỹ tài chính nhà nước, trong đó có quỹ NSNN, huy động và tập trung nguồn ngân quỹ cho nhà nước và đầu tư phát triển.
Trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống KBNN ở nước ta, phát triển KBNN ổn định, an toàn và hiện đại đạt mục tiêu nâng cao hiệu quả c 10 quản lý NSNN, đảm bảo tính công khai, minh bạch và khả năng kiểm tra, giám sát ngân sách và các hoạt động khác của KBNN, đã đặt ra yêu cầu tăng cường tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN để giữ an toàn hệ thống. Trong những năm qua, một trong những mục đích đầu tiên của hoạt động TTKT KBNN là đảm bảo tính an toàn hệ thống để các KBNN hoạt động đúng quy định của Ngành, của Bộ Tài chính và đúng Luật. Hai là, tăng cường kỷ cương pháp luật trong quản lý quỹ NSNN và hoạt động KBNN Thanh tra, kiểm tra luôn gắn với nhà nước, lịch sử đã chứng minh, có nhà nước là có thanh tra, công cụ kiểm tra giám sát phục vụ yêu cầu quản lý của nhà nước, giúp nhà nước quản lý kinh tế xã hội. Hoạt động thanh tra, kiểm tra KBNN gắn bó hữu cơ với thẩm quyền quản lý Nhà nước của KBNN, đây là vấn đề quan trọng có quan hệ đến hiệu quả và hiệu lực thanh tra, kiểm tra KBNN, do vậy phải phát huy hết vai trò của KBNN các cấp trong hoạt động TTKT KB, thông qua hoạt động TTKT KB có tác dụng giúp KBNN các cấp kiểm tra tính đúng đắn của các quyết định quản lý góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách khắc phục sơ hở thiếu sót trong quản lý, giữ vững kỷ cương pháp luật bảo vệ lợi ích của nhà nước và quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, hoạt động TTKT KB còn phát hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh, xử lý theo thẩm quyền, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về quản lý quỹ NSNN và các hoạt động kho bạc khác. Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về quản lý quỹ NSNN và các hoạt động kho bạc khác. Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật KNTC các vụ việc thuộc thẩm quyền của KBNN có liên quan đến tổ chức và hoạt động KB, tham mưu giúp Tổng Giám đốc KBNN chỉ đạo công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong ngành Kho bạc. c 11 Tiến hành các cuộc TTKT thường xuyên, đột xuất về chấp hành các quy định của pháp luật, chế độ, chính sách của BTC và quy trình nghiệp vụ KB về lĩnh vực quản lý quỹ NSNN và các hoạt động KB khác.