phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 3 chương, gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên Trường cao đảng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ đến năm 2015. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, là quá trình giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, mở mang trí tuệ, hình thành văn hóa, đạo đức, giúp xã hội bảo tồn và phát triển văn hóa của mình.
Giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó con đường quan trọng nhất là tổ chức dạy học và đào tạo. Ở Việt Nam, giáo dục đã trải qua ba thời kỳ, giáo dục trong thời kỳ phong kiến, giáo dục trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ và giáo dục của nước Việt Nam mới, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thời kỳ phong kiến, sau khi đất nước được độc lập ( năm 938 ), dưới các triều đại phong kiến Ngô, Đinh, Tiền Lê ( 939-1009) việc học tập chủ yếu được tổ chức trong các trường tư và các trường chùa. Đến đời nhà Lý ( thế kỷ XI ) triều đình phong kiến lúc đó mới thực sự quan tâm đến giáo dục.
Nhà Lý lập ra Quốc tử Giám năm 1076, đây được coi là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam để dạy con em hoàng tộc. Đến nhà Trần năm 1397, vua Trần Thuận Tông ban chiếu mở trường ở châu huyện, việc học giai đoạn này đã có sự phát triển thêm. Nhà Hồ tồn tại tuy ngắn ngủi ( 1400-1407 ), Hồ Quí Lý cũng rất quan tâm đến giáo dục để nâng cao dân trí và tuyển chọn người tài. Đời nhà Lê ( thế kỷ XV ), nhất là dưới triều vua Lê Thánh Tông ( 1460 – 1497 ), qui mô của các trường đã được mở rộng hơn cho con em dân thường.
Nhìn chung giai đoạn này giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục phong kiến phương Bắc, nổi bật là tư tưởng giáo dục nho giáo. Thời kỳ Pháp thuộc, từ giữa thế kỷ XIX đến hai thập kỷ đầu thế kỷ XX thực dân Pháp vẫn giữ nguyên nền giáo dục phong kiến của triều Nguyễn. Bên cạnh nền giáo dục phong kiến, thực dân pháp mở một số trường nhằm phục vụ công việc cho Pháp như : mở một số trường Pháp – Việt tại Sài Gòn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (năm 1862), chủ yếu đào tạo phiên dịch. Mở trường sư phạm thuộc địa Sài gòn (năm 1871), trường sư phạm tiểu học (năm 1886).
Năm 1889, bắt đầu tuyển sinh sang Pháp học. Năm 1900, lập Viện Viễn đông bác cổ, đặt ở Sài gòn, sau dời ra Hà Nội năm 1901. Năm 1905, lập Nha học chính Đông Dương. Năm 1906, lập Hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ.
Năm 1917, ban hành bộ luật đầu tiên về giáo dục cho Đông Dương. Theo luật này, từ năm 1918 không còn trường dạy chữ Hán và bãi bỏ các khoa thi hương, thi hội, thi đình. Từ đó, hệ thống giáo dục của Việt Nam theo mô hình hệ thống giáo dục của Pháp. Năm 1945, Việt nam có hơn 95% số dân mù chữ, trong đó, tỷ lệ phụ nữ và người dân tộc thiểu số còn mù chữ chiếm đa số.
Số dân Việt Nam năm 1945 có khoảng 22 triệu người, nhưng chỉ có khoảng 3% số dân được đi học, số này được đào tạo chủ yếu phục vụ bộ máy cai trị. Việc mở trường của thực dân Pháp nhằm thực hiện chính sách giáo dục nô dịch và đồng hóa, thực chất là chính sách ngu dân. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngay sau khi Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới thành lập, Chính phủ, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã nêu ra một trong những mục tiêu hàng đầu là diệt giặc dốt. Sau hơn nửa thế kỷ phấn đấu liên tục vượt qua nhiều khó khăn gian khổ đến nay hệ thống giáo dục quốc dân đã phát triển toàn diện và rộng khắp đào tạo đủ các bậc học từ mầm non cho đến tiến sỹ, đến tháng 12 năm 2000 Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học để bước vào giai đoạn mới là phổ cập trung học cơ sở trong cả nước.
Hiếu học và tôn sư trọng đạo là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Từ xưa đến nay trong dân gian đã truyền tụng câu ca dao: “ Muốn khôn thì phải có thầy, Không thầy dạy dỗ, đố mày làm nên”; “ Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ, thì yêu lấy thầy”… Trong suốt cuộc đấu tranh giữ nước và dựng nước, dân tộc ta luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy. Chúng ta có đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục; người thầy giáo là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Đó là những người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho các em nhân cách văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, dạy cho các em có tri thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp, tạo nên những lớp người có ích cho đất nước.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “ Nghề dạy học là nghề cao quí vào bậc nhất trong các nghề cao quí… Nghề dạy học là một nghề sáng tạo bậc nhất trong các nghề sáng tạo …, vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Bước sang thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cùng với khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định thực hiện thành công công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải phát triền mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”, và “Để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo thì giải pháp có tính quyết định là xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo”.
Ngày 15 tháng 6 năm 2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Trong Chỉ thị này Ban Bí thư đã nhấn mạnh: “. phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước”.
Ngày 28 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã xác định hệ thống mục tiêu nhằm phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH đất nước: “ Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực. Ưu tiên nâng cao chất lượng nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy mạnh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu dạy – học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục”.
Để thực hiện các mục tiêu này, chiến lược đã xác định bẩy giải pháp lớn, trong đó giải pháp “ phát triển đội ngũ giáo viên” được coi là một trong những giải pháp trọng tâm. Ngày 27/8/2001 Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo của hệ thống giáo dục quốc dân. Thủ tướng đã yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề phải xây dựng và triển khai kế hoạch dài hạn và phát triển đội ngũ giáo viên. Để thực hiện được mục tiêu trên, Chính phủ đã có đề án: Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010.
Trên cơ sở đề án của Chính phủ các Bộ, ngành liên quan, Bộ Giáo dục- Đào tạo, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và một số bộ, ngành khác xây dựng các chương trình, đề án… triển khai thực hiện. Liên quan đến vấn đề này đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu đề cập đến, như PGS.TS Cao Văn Sâm : Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo theo ba cấp trình độ ( Tạp chí Khoa học giáo dục kỹ thuật, số 2, năm 2006) và một số tác giả khác… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhiều học viên thạc sỹ quản lý giáo dục cũng đã chọn đề tài về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên làm luận văn tốt nghiệp, các đề tài này được gắn với các trường, như Đinh Viết Xuân với đề tài: “Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp”, (năm 2008); Phan Huy Hoàng với đề tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề cơ khí nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay”, (năm 2009); Nguyễn Đức Thọ với đề tài: “Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ trong giai đoạn phát triển mới”, (năm 2009).