Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm trên thế giới Ngay từ khi bắt tay vào xây dựng nhà nước XHCN, V. Lê-nin đã rất coi trọng việc xây dựng đội ngũ giáo viên.
Người viết: “Chúng ta phải làm cho giáo viên ở nước ta có một địa vị mà trước đây họ chưa từng có, hiện nay vẫn không có và không thể có được trong xã hội tư sản”. Trong báo cáo (1996) với nhan đề “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn” của UNESCO đã xem xét vấn đề GD suốt đời như là việc học tập dựa trên bốn trụ cột lớn: “Học để biết; Học để làm; Học để cùng chung sống; Học để cùng tồn tại”. Đây chính là định hướng cốt lõi cho GD học sinh trong các trường phổ thông. Vấn đề GD để làm gì? GD cái gì? và GD như thế nào? Trong tác phẩm “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” (NXB Giáo dục Matxcơva, 1984), Bôn-đư-rép đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông.
Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học mà có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp. Những nội dung GD học sinh như: GD kĩ năng sống, GD những giá trị sống, GD hướng nghiệp, … Theo quan điểm của UNESCO đã cho rằng GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này. Đặc biệt, cuốn tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn (Unicef 2005) cũng đưa ra những cách thức tham vấn cho HS lứa tuổi thanh niên. Như vậy, GV cần tổ chức các hoạt động khác nhau để HS có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó.
Tài liệu dịch từ thành tựu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về lĩnh vực này có cuốn Công tác chủ nhiệm lớp của tác giả Lê Khánh Bằng - Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu quản lý đội ngũ GVCN ở Việt Nam Vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu không có thày giáo thì không có giáo dục” [29].
Nhiều Hội thảo khoa học về chủ đề đội ngũ giáo viên dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học đã được thực hiện. Có thể kể đến một số nghiên cứu loại này của các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Thành Hoàn, Trần Bá Hoành,. Việc xây dựng đội ngũ giáo viên cũng đã được một số công trình nghiên cứu, đề cập. Tại Hội thảo khoa học “Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo giáo viên” do Khoa Sư phạm- Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Đặng Xuân Hải,.
cũng đã đề cập đến việc đào tạo đội ngũ giáo viên trước nhiệm vụ mới của Giáo dục – Đào tạo. Các báo cáo tham luận hội thảo cũng bước đầu xác định những dấu hiệu để nhận biết GVCN bao gồm: là chuyên gia sư phạm, là chuyên gia về khoa học sáng tạo, là chuyên gia hướng dẫn, tư vấn. Có nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình như: Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, “Những tình huống giáo dục HS của người GVCN”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000; Hà Nhật Thăng (chủ biên), “Phương pháp công tác của người GVCN trường Phổ thông”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001; Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, “Công tác GVCN ở trường phổ thông”, NXBGD, 1998; Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Kỷ yếu hội thảo Công tác GVCN ở trường phổ thông”, NXBGD, 2010. Nguyễn Thị Kim Dung: Công tác chủ nhiệm lớp- Nội dung quan trọng trong Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên.
Kỷ yếu Hội thảo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học: Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm, năm 2010. Lưu Xuân Mới: Cải tiến việc quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường phổ thông (Đề tài cấp trường). Trường cán bộ quản lý giáo dục, Bộ GD- ĐT, Hà Nội 12/1998. Nội dung về công tác chủ nhiệm cũng được nghiên cứu qua các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục như: Nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Hà với đề tài Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng công tác chủ nhiệm lớp cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai năm 2003.
Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Chuyên với đề tài Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp tại trường Phổ thông Mạc Đĩnh Chi, quận Dương Kinh năm 2009. Tác giả Vi Thúy Hoa với luận văn Quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn năm 2013. Tác giả Nguyễn Xuân Tuyên với luận văn Biện pháp quản lý công tác GVCN lớp của hiệu trưởng trường THPT ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay năm 2006. Hiện chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện ở trường THCS Trịnh Xá, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về quản lý đội ngũ GVCN.
Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Giáo viên, GVCN, đội ngũ GVCN 1. Giáo viên Theo Điều 70, Luật Giáo dục nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: "Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác", "Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên". 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, giáo viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động của giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề [33].
Theo đó, giáo viên thực hiện lao động nghề nghiệp của mình tại các trường THCS được gọi là giáo viên THCS. Giáo viên chủ nhiệm Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức để giảng dạy và giáo dục học sinh là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc - Comenxki đề xướng. Để quản lý lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp.
GVCN lớp được Hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín trong học sinh, phân công chủ nhiệm các lớp học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy, khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm lớp. GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ HS quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp. Đội ngũ GVCN Tập hợp các giáo viên làm công tác chủ nhiệm của nhà trường chính là đội ngũ GVCN của trường đó.
Cơ sở lý luận về Quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu của lịch sử.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mác: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [28, tr 105]. Theo tác giả Frederich William Taylor (1856-1915) người Mỹ: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”.
Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn "Quản lý nguồn nhân lực": "Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động cá nhân của nhóm huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức" [31]. Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý "người quản lý" đến khách thể quản lý "người bị quản lý" trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [14]. Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định". Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm chung: - Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động, hoạt động khác.
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý. - Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội.
Lao động quản lý là điều kiện quan trọng làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện.