CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Xuất phát từ đòi hỏi các trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên phát huy được năng lực học tập một cách chủ động và hiệu quả nhất, vào năm 1872 viện đại học Harvard, Hoa Kỳ đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các mô đun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách linh hoạt. Đây là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ.
Đến đầu thế kỷ XX, học chế tín chỉ được sự hưởng ứng rộng khắp trong các trường đại học ở Bắc Mỹ. Vào năm 1999, các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng HCTC trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và trên thế giới [10 tr. Có nhiều hình thức hỗ trợ người học rất đa dạng, trực tiếp cũng như gián tiếp, trong chính khóa cũng như trong các chương trình ngoại khóa, trong trường lớp cũng như ngoài lớp học, qua đội ngũ giảng viên cũng như qua các đội ngũ hỗ trợ khác, trong đó có việc các trường thành lập đội ngũ CVHT. Đội ngũ tư vấn, CVHT ở các trường ĐH tại một số nước tiên tiến, đặc biệt ở Hoa Kỳ và các nước Tây Âu, thường rất phong phú, đa dạng với các chức danh như: Cố vấn học tập, Người tư vấn hướng nghiệp, Cố vấn hoạt động ngoại khóa, Trợ giảng, Điều phối viên, Người đôn đốc học tập, trợ lý giáo vụ, trợ lý khoa/bộ môn, Giáo viên chủ nhiệm lớp/nhóm, ….
Trong đó Cố vấn học tập có nhiệm vụ tư vấn cho SV về chọn khóa học, ngành học phù hợp với năng lực và sở thích của SV, tư vấn và xét duyệt kế hoạch học tập của SV, trong đó có việc tăng giảm môn học, chọn ngành đào tạo chính, phụ. Họ nắm rất rõ chương trình đào tạo, cấu trúc và nội dung chương trình 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học, trình tự hợp lý các môn học, danh mục các môn học bắt buộc cũng như tự chọn phù hợp với từng định hướng đầu ra khác nhau trong HCTC, kể cả thực tập chuyên môn,. để tư vấn cho SV khi bắt đầu nhập học, chuẩn bị vào giai đoạn chuyên ngành hay khi sắp kết thúc chương trình học, học thêm văn bằng 2, học sau ĐH. Đội ngũ tư vấn, CVHT trường ĐH các nước tiên tiến kể trên đa dạng, phong phú, ngoài kinh nghiệm chuyên môn, họ còn được cử đi tập huấn về công tác tư vấn, tham vấn học tập, quản lý học vụ,…giúp sinh viên học theo HCTC và sinh viên quốc tế trong thời hội nhập khá hiệu quả.
Việc tìm kiếm và áp dụng nhiều lý thuyết tiếp cận từ góc độ khoa học phát triển, từ các khoa học trong lĩnh vực xã hội – nhân văn, từ thực hành giáo dục,. sẽ giúp các CVHT nắm được một cách đầy đủ sự phát triển tâm – sinh lý và xã hội của SV, nhìn nhận sâu sắc hơn những vấn đề của SV. Có thể kể ra một số lý thuyết cụ thể đã đem lại hiệu quả cho hoạt động CVHT, đó là lý thuyết về phát triển tâm lý – xã hội của con người, thuyết phát triển nhu cầu, thuyết phát triển văn hóa xã hội,. Để tiếp cận với hoạt động của CVHT, các nhà nghiên cứu còn vận dụng các lý thuyết ứng dụng trong giáo dục, quản lý, trong tham vấn.
Các lý thuyết này giúp cho CVHT tiếp cận SV một cách toàn diện. Ngoài ra, quá trình xã hội hóa cá nhân liên quan tới vấn đề tôn giáo, sắc tộc, giới tính, phân tầng xã hội, vấn đề người khuyết tật,.(King, 2005; MCKewen,2003) đã làm đa dạng hóa các nhóm SV, chúng đòi hỏi CVHT không thể không lưu ý khi cố vấn cho SV. Hendey (1999) đã cho rằng, thực tế có quá nhiều lý thuyết phát triển khác nhau ứng dụng cho hoạt động CVHT, nhưng chúng đều đưa ra một cách hiểu chính xác chung nhất về cố vấn phát triển hơn là gây khó khăn cho hoạt động cố vấn trong trường học. Các CVHT không nên bị sa lầy vào một lý thuyết phát triển cụ thể nào mà cần có hiểu biết về một vài lý thuyết phát triển cụ thể để ứng dụng trong công việc của mình.
Việc xây dựng lý thuyết cho hoạt động CVHT sẽ tạo ra các lăng kính mà thông qua đó việc học tập của SV có thể thể hiện một cách rõ nét. Tuy nhiên, một lăng kính không thể được sử dụng mãi mãi bởi người được quan sát cũng như đối tượng quan sát luôn luôn thay đổi. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong nước Nghiên cứu về nhiệm vụ, vai trò của “cố vấn học tập” Cố vấn học tập là thuật ngữ mới xuất hiện trong đào tạo theo HCTC.
Công tác CVHT có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học nói riêng, chất lượng giáo dục ở bậc ĐH theo học chế tín chỉ nói chung. Thông qua công tác tư vấn, người CVHT vừa hướng dẫn và cung cấp thông tin vừa đồng hành, hỗ trợ sinh viên trong học tập và rèn luyện. Khi đề cập đến công tác CVHT (nhiều trường ĐH, CĐ Việt Nam sử dụng các tên gọi khác nhau cho vị trí cố vấn học tập như tư vấn học tập/giáo viên chủ nhiệm/trợ lý sinh viên) ở trường ĐH đã có một số tài liệu, công trình nghiên cứu, hội thảo tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình, tác giả sau: Bài viết của tác giả Mai Sơn Nam (2010) trên Tạp chí Giáo dục số 234: “Cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ” đề cập tới sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ CVHT, tới chức danh và nhiệm vụ của CVHT ở trường ĐH. [19] Từ tháng 3 đến tháng 5/2011, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội tổ chức cuộc thi: “Nghiệp vụ cố vấn học tập” với chủ đề: “Đồng hành – trách nhiệm – sáng tạo” với 14 đội tham gia cùng 61 CVHT.
Cuộc thi đã mang lại ý nghĩa thiết thực cho giảng viên và SV đang theo học HCTC ở các trường ĐH. Bằng hình thức sân khấu hóa, các thầy cô là CVHT lên sân khấu thuyết trình về vai trò của mình, trả lời các tình huống mà sinh viên đặt ra, đồng thời giới thiệu về ngành học để SV hiểu rõ hơn ngành nghề đang theo đuổi. Sinh viên được tham gia đánh giá giờ giảng của thầy cô một cách công khai và chấm điểm hoạt động của các CVHT. [26] Ngày 28/11/2012, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội đã tổ chức hội thảo: “Nghiệp vụ cố vấn học tập” nhằm giúp giảng viên và SV nhận thức đúng đắn về vai trò của CVHT trong hoạt động đào tạo, các quy trình tư vấn cho SV trong việc lựa chọn chuyên ngành, đăng ký môn học, xây dựng kế hoạch học tập … và đóng góp ý kiến xây dựng các giải pháp, mô hình cho công tác CVHT.
Nghiên cứu về quản lý đội ngũ CVHT Tác giả Nguyễn Thanh Sơn với đề tài “Đổi mới công tác quản lý cố vấn học tập tại các trường Đại học ngoài công lập”, đề tài đã phân tích những yêu cầu cần đặt ra trong hoạt động quản lý đội ngũ CVHT, phân tích thực trạng và đề xuất 5 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp quản lý, trong đó đề cao vai trò của biện pháp “Đổi mới việc phân công nhiệm vụ cho đội ngũ CVHT”.[22] Tác giả Lưu Thị Thúy nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý đội ngũ Cố vấn học tập tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học QG Tp Hồ Chí Minh” năm 2013; đề tài cũng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ CVHT, phân tích thực trạng quản lý đội ngũ CVHT tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đề tài đề xuất 6 nhóm giải pháp quản lý đội ngũ CVHT được đánh giá cấp thiết và khả thi, trong đó đề cao nhóm giải pháp “tăng cường năng lực tư vấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ CVHT”.[23] Có nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ CVHT thông qua các hội nghị CVHT hàng năm tại các trường ĐH, CĐ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản lý đội ngũ CVHT mang tầm cỡ, quy mô còn hạn chế, hiện nay mới chỉ xuất hiện một số đề tài nghiên cứu với mức độ nhỏ lẻ tại một số địa phương khác nhau. Đặc biệt, tại trường Cao đẳng Y tế Phú thọ chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lý đội ngũ CVHT, với tầm quan trọng, vai trò của CVHT trong đào tạo theo học chế tín chỉ, tôi đã chọn vấn đề này làm nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chuyên ngành QLGD. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 1. Khái niệm “Quản lý” Nhận thức của con người về quản lý rất đa dạng và phong phú. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa đồng thời do sự khác biệt của thời đại, chế độ xã hội, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, cách hiểu khác nhau. Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp nỗ lực hoạt động của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức. Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về quản lý, theo nghĩa rộng thì quản lý là hoạt động có mục đích của con người, nếu xét quản lý với tư cách là một hoạt động, các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [15, tr. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những định nghĩa trên chúng ta có thể nói rằng quản lý là một quá trình mang tính xã hội, xuất hiện cùng với sự hợp tác và phân công lao động, bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.