Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chất lượng ở trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Đề xuất những giải pháp để nâng cao công tác quản lý chất lượng ở trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh. Các nội dung trên được trình bày trong các phần tiếp theo của luận văn.
Trang 14 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, tác giả sẽ trình bày tóm tắt một số bài báo, sách, tư liệu có liên quan. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Ở nước ta thời gian qua đã có một số nhà khoa học nghiên cứu và có một số công trình về “Đảm bảo chất lượng”, “Quản lý chất lượng”, “Đánh giá và nâng cao chất lượng” trong lĩnh vực giáo dục đại học của các tác giả như: năm 2006, Bùi Đức Tài có đề tài “phân tích và giải pháp ứng dụng QMS ISO 9001:2000 để nâng cao chất lượng quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM”, đề tài chỉ tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến chương trình đào tạo đặc thù của Khoa công nghệ hóa học điểm hình và nêu khái quát về quá trình áp dụng ISO 9001:2000.
Năm 2007, Trần Thị Thùy có tên đề tài “Phân tích và đánh giá công tác kiểm định chất lượng ứng dụng tại trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm Tp.Hồ Chí Minh”, đề tài tập trung vào các cơ sở lý luận về công tác tự đánh giá chất lượng và công tác triển khai để thu thập hồ sơ minh chứng cho các tiêu chuẩn/tiêu chí kiểm định. Năm 2007, Phạm Xuân Thanh đã viết bài báo khoa học “Đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục (phần 2)”. Năm 2009, tại Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Nguyễn Lộc đã viết dự thảo về “quản lý chất lượng giáo dục”. Trong bài báo khoa học Vai trò của tiêu chuẩn/tiêu chí trong đánh giá giáo dục (2009)[5], v.
Trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, thời kỳ khoa học công nghệ và công nghệ thông tin, nền kinh tế tri thức phát triển, vấn đề “chất lượng, quản lý chất lượng, nâng cao chất lượng.” nói chung và trong các Giáo dục và Đào tạo nói riêng đang được đặt ra hàng đầu, vì vậy được nhiều nhà khoa học lưu tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo có ban hành Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học và Thông tư số: 37/2012/TT-BGDĐT, ngày 30/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban Trang 15 hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Đại học; Quyết định số: 66/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Cao đẳng; là những cơ sở, tiền đề để thực hiện đảm bảo chất lượng trong các trường Đại học. Như vậy có rất nhiều quyết định, văn bản hướng dẫn, nhóm các nhà khoa học, các đề tài nghiên cứu khác nhau đề cập đến vấn đề chất lượng, quản lý chất lượng, kiểm định chất lượng, nâng cao chất lượng. Mặt khác trong giáo dục, nhất là đối với các cơ sở giáo dục rất cần phải thực hiện “Quản lý chất lượng” đặc biệt tại một trường có áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 như trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh.
Tiêu chuẩn ISO 9001:2008 quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng khi nhà trường cần chứng tỏ khả năng cung cấp một cách ổn định sản phẩm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng cũng như các yêu cầu của luật định và chế định thích hợp; và muốn nâng cao sự thoả mãn của khách hàng thông qua việc áp dụng có hiệu lực hệ thống, bao gồm cả các quá trình để cải tiến liên tục hệ thống và đảm bảo sự phù hợp với các yêu cầu của khách hàng, yêu cầu luật định và chế định được áp dụng. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Ở Mỹ vào năm 1950 của thế kỷ XX, W. Deming là người có nhiều công trình về quản lý chất lượng, trong đó có sơ đồ quản lý “Vòng tròn Deming” tập trung vào POLC (Plan, Organize, Lead, Control) [4]. Ở Đài Loan trong năm 1998, các trường Đại học của Đài Loan đã đăng ký tuân thủ và áp dụng HT QLCL tiêu chuẩn ISO 9000.
Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 do tự bên trong nội bộ các trường Đại học vận hành mà không cần sự hỗ trợ và giúp đỡ của chuyên gia tư vấn của các tổ chức bên ngoài. Tháng 04/1998 Học viện Kao Hsiung công nghệ của Đại học Quốc gia Đài Loan là trường đầu tiên áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000. Tiếp theo sau đó là các trường: Đại học Yuan Ze, Đại học Công nghệ miền Nam Đài Loan, Đại học Công nghệ Kun- Sen và Đại học Công nghệ Cheng Kung đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 [23]. Thống kê áp dụng ISO 9001 của Đài Loan: theo số liệu Trang 16 thống kê mới nhất từ cuộc khảo sát của Tổ chức ISO thế giới (The ISO survey), cho đến cuối tháng 12 năm 2013, chứng chỉ được phát hành ở Đài Loan là 11118.
Tổng số chứng chỉ năm 2013 tăng 30% (2.578) so với năm 2012 là 8540 [24]. Ở Thái Lan, đảm bảo chất lượng được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra của nhà trường, kiểm toán chất lượng bên ngoài và kiểm định công nhận. Chú trọng các mục tiêu GDĐH, sự thực hiện, các kết quả hay chỉ số học tập và cải tiến chất lượng. Cơ cấu đảm bảo chất lượng gồm hai mảng độc lập nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau: đảm bảo chất lượng bên trong do Bộ Công tác đại học (MUA-the Ministry of University Affairs) quản lý, còn đảm bảo chất lượng bên ngoài do Cục tiêu chuẩn giáo dục và đánh giá chất lượng quốc gia (ONESQA-Office for National Educational Standards and Quanlity Assessments) quản lý.
Hệ thống đảm bảo chất lượng ở các trường đại học của Thái Lan dựa trên nguyên tắc là một mô hình “đầu vào-quá trình-đầu ra” và đều phải tập trung vào việc dạy và học. Điểm chủ yếu trong hệ thống đảm bảo chất lượng ở đây là các trường phải thành lập, có dẫn chứng bằng tài liệu, thực hiện, duy trì và liên tục cải tiến hệ thống của mình. Hệ thống đảm bảo chất lượng gồm: Đánh giá trong (do các trường đại học chịu trách nhiệm) 2 năm đánh giá một lần và đánh giá ngoài (do ONESQA thực hiện năm năm một lần, nếu đạt sẽ được cấp giấy chứng nhận). Trường Đại học Chulalongkorn (lớn nhất Thái Lan, xếp hạng 78 của hệ thống các trường đại học trên thới giới), hệ thống đảm bảo chất lượng có ý tưởng từ năm 1996, việc tự đánh giá được thông qua các cuộc thăm viếng của các chuyên gia trên cơ sở ba kiểu hoạt động căn bản (được coi là cơ sở cho hệ thống ĐBCL của trường): kiểm soát, hỗ trợ và thanh tra chất lượng giáo dục.
Tiêu chuẩn ĐBCL của trường cơ bản là: “Giảng dạy-học tập, nghiên cứu, điều hành và hỗ trợ, các dịch vụ học thuật”. Điều này thể hiện quan điểm của trường trong việc đảm bảo chất lượng ở cấp trường, khoa và bộ môn ở cả ba giai đoạn: đầu vào, quá trình, đầu ra. Trong tiêu chuẩn ĐBCL giảng dạy - học tập thì phải hình thành các hoạt động dạy-học, bao gồm: chương trình đào tạo, đội ngũ, quá trình giảng dạy - học tập, sinh viên, các yếu tố hỗ trợ cần thiết cho các hoạt động giáo dục nhằm tạo những sinh viên tốt nghiệp có chất lượng cao [8]. Các khái niệm liên quan đến đề tài Trong đề tài khoa học Xây dựng các tiêu chí kiểm định cho các chương trình đào tạo tại các trường đại học sư phạm (2009)[6], tác giả đã nghiên cứu và chọn lọc ra một số khái niệm tiêu biểu có ý nghĩa khoa học, liên quan đến đề tài của Nguyễn Kim Dung như sau: - Chất lƣợng (Quality) Theo tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu (European Organization for Quality Control) cho rằng: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng ” [18].
Deming: “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận” [4]. Juran: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng” [22]. Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999, “chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu nêu ra hoặc tiềm ẩn” [31]. Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000, “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các yêu của khách hàng và các bên liên quan” [32].
Theo quan niệm của INQAAHE (Mạng lưới quốc tế các tổ chức ĐBCL GDĐH): tuân theo các chuẩn quy định: Cần có các bộ tiêu chí đánh giá chất lượng; đạt được các mục tiêu đề ra: Mục tiêu được xác lập dựa trên yêu cầu của xã hội và điều kiện của nhà trường. Quan niệm của Việt Nam (phù hợp với INQAAHE) : “Chất lượng giáo dục trường” là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của CSGD, đáp ứng các yêu cầu của Luật GD, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GD, Luật GDĐH, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước [30]. Trang 18 Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa: Chất lượng được xem như là “phù hợp với mục tiêu” – là đáp ứng các tiêu chuẩn đuợc thiết lập của một cơ quan kiểm định chất lượng hoặc một cơ quan đảm bảo chất lượng [7]. - Yêu cầu (Requirement) Nhu cầu hay mong đợi đã được công bố nghĩa là những gì thực hành mang tính thông lệ hay phổ biến đối với một tổ chức, khách hàng của tổ chức và các bên quan tâm khác.
Có thể sử dụng một định nghĩa để chỉ rõ loại yêu cầu cụ thể, ví dụ: yêu cầu đối với sản phẩm, yêu cầu đối với hệ thống chất lượng, yêu cầu của khách hàng [11, tr.