phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cố vấn học tập trường đại học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động cố vấn học tập ở Đại học Quốc gia Hà Nội: nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Công nghệ. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động cố vấn học tập ở Đại học Quốc gia Hà Nội: nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Công nghệ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Carl Jung (1960) và các tác giả như Myers-Briggs (Myers & McCauley, 1985), Kold (1984), Evans, Forney và Guido-DiBrito (1998) trên cơ sở các nghiên cứu của mình đã đưa ra lý luận về phong cách học tập của các cá nhân tương ứng với các kiểu loại nhân cách, kiểu thần kinh của người học là: Hướng nội - Hướng ngoại; Hệ thống các giác quan: Cảm nhận - Trực giác, Tư duy, cảm giác, và Đánh giá - Nhận thức. Theo Kold (1984) hoạt động của con người có thể gom về năm tuýp phong cách: đó là người áp dụng; người phản ánh; người phân tích, người lý luận và người thực tế. Trên cơ sở tuýp người này, các cố vấn học tập có thể có cách tạo ra tác động hợp lý cho đối tượng sinh viên trong hoạt động học tập.
Các nghiên cứu thực tiễn về hoạt động cố vấn học tập được các tác giả trên thế giới bàn đến và tập trung chủ yếu ở quá trình phát triển các phương thức dạy - học ở bậc đại học. Theo các tác giả Gallagher & Demo (1983), Rudolph (1990), Terry L. Kuhn (1996) và Brian Gillispie (2001) ngay từ thế kỷ thứ 17, các trường cao đẳng, đại học tại Mỹ đã quan tâm tới việc đào tạo cử nhân có tri thức và lịch lãm, bằng cách làm mẫu cho sinh viên về mặt đạo đức và trí tuệ thông qua cách cư xử của tất cả giáo viên trong trường. Hoạt động cố vấn học tập có thể được phân định thành 3 giai đoạn phát triển như sau [25, tr.32]: Theo Morison (1946), Rudolph (1962), Frost (2000), giai đoạn thứ nhất: hoạt động cố vấn học tập hình thành nhưng chưa được định nghĩa.
Tại trường đại học Harvard, các giáo viên và sinh viên cùng sống trong một tòa nhà, họ cùng ăn uống, thư giãn, giải trí, cầu nguyện và tuân theo những kỷ luật chung.23-32] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn thứ hai: Theo Frost (2000), từ năm 1870 đến 1970 là giai đoạn “cố vấn học tập trở thành một hoạt động được định nghĩa nhưng chưa được kiểm tra”. Rudolph (1962) cho biết, khi việc học tập của sinh viên được thiết kế theo chương trình (năm 1877) thì các em cần có một người theo dõi sát sao để hướng dẫn cụ thể. Gordon (1992), Brian Gillispie (2009), Strange (1994) và Strommer (1999) cho rằng, giai đoạn này là thời kỳ hoạt động của các cố vấn học tập được định hướng một cách rõ ràng nhất. Cố vấn học tập hướng dẫn cho sinh viên chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực [7, tr.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Veysey (1965), ông đã nhận ra có những bất cập như thái độ của cố vấn học tập “đang dần thoái hóa và trở thành một công việc hời hợt”, các kỹ năng tư vấn trong lượt tư vấn đang trở thành “những buổi trò chuyện bâng quơ, vắn tắt”. Các cố vấn học tập bị phân tâm giữa những việc giảng dạy với các áp lực khác [7, tr. Giai đoạn thứ ba: Nghiên cứu của Frost (2000) xác định giai đoạn thứ 3 là từ năm 1970 đến nay. Ở giai đoạn này hoạt động “cố vấn học tập đã trở thành một hoạt động được định nghĩa và kiểm tra”.
Và bắt đầu từ đây hình thức đào tạo theo tín chỉ được gọi tên, và chức danh cố vấn học tập cũng chỉ bắt đầu xuất hiện khi có hình thức đào tạo theo tín chỉ. Theo Gordon (1992) các trường đại học trong thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX đã trở thành nơi cung cấp dịch vụ đào tạo cho người học. Sinh viên tìm gặp cố vấn học tập để tìm hiểu thông tin về ngành nghề, trách nhiệm của trường, sự công bằng giữa các sinh viên (Komives, SR, Woodard Jr, D. B, 1996), kiến nghị về các dịch vụ, chất lượng đào tạo và khám phá về năng khiếu của bản thân (Zunker, 2002) [7, tr.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả hướng tới các nội dung liên quan tới vai trò của tư vấn học tập. Najilah Ali chú ý tới trách nhiệm thực tế của người làm công tác tư vấn cho sinh viên trong một ngành học cụ thể. Các tác giả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rivka Lazovsky và Aviva Shimoni Lazovsky (2007) với việc tiến hành nghiên cứu trên hai nhóm cố vấn giàu kinh nghiệm và nhóm cố vấn học tập đối với sự nhận thức về vai trò công tác tư vấn và thực hiện vai trò này trên thực tế. Họ đề cao vai trò cố vấn chuyên nghiệp giàu kinh nghiệm [27, tr.
Cách thức tư vấn cho hoạt động của cố vấn học tập cũng khá đa dạng, bên cạnh hình thức tư vấn trực tiếp, thì hình thức tư vấn online đang ngày càng trở nên phổ biến. Có thể kể tới nghiên cứu của các tác giả Lairio, Marjatta, Nissila, Pia (2002) khi bàn về công tác tư vấn trong trường học ở Phần Lan. Với việc thiết lập 27 mạng lưới tư vấn trong và ngoài nhà trường, hoạt động tư vấn đã có được hiệu quả hơn. Đồng thời tác giả cũng khẳng định công việc của nhân viên tư vấn trong trường học đã mở rộng và trở nên đa dạng hơn.
Bài viết này còn phân tích sự thay đổi về nhiệm vụ và các vấn đề cốt lõi của tư vấn cũng như những thách thức mới mà công tác tư vấn ở Phần Lan đang phải đối mặt [28, tr. Ở trong nước Năm 2001, ở Việt Nam bắt đầu áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ thay cho học phần tại các trường đại học và cao đẳng trên cả nước. Tuy nhiên, từ đó đến nay các trường mới lần lượt áp dụng chứ không phải đồng loạt, cùng với phương thức đào tạo theo tín chỉ là sự xuất hiện của các cố vấn trường học. Cụm từ Cố vấn trường học lúc đầu “sánh đôi” với Giáo viên chủ nhiệm.
Sau này, cụm từ cố vấn học tập mới được sử dụng thay thế duy nhất trong hoạt động tư vấn học tập cho sinh viên, được quy định trong các Quy chế liên quan tới hoạt động đào tạo tại các trường. Trong khi khảo sát 379 sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Hoàng Thiện đã phát hiện về tự học ngoài giờ lên lớp thì trong những nguyên nhân làm ảnh đến việc tự học của sinh viên, yếu tố liên quan đến việc hướng dẫn của giảng viên cùng những vấn đề khác có liên quan đến người dạy chiếm một tỷ lệ khá cao đó là: vai trò của giáo viên trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc khuyến khích và hướng dẫn tự học, yêu cầu của giảng viên trong tự học, cách kiểm tra, đánh giá của giảng viên và phương pháp giảng dạy của giảng viên. Có nghĩa là bên cạnh phương pháp giảng dạy thì việc đánh giá sinh viên cũng quan trọng khi muốn thúc đẩy hoạt động tự học của các em. Tác giả cũng cho rằng, không nên “chỉ công nhận những cố gắng, thành tích của người học qua bài thi giữa kỳ và cuối kỳ mà cần đánh giá họ trong cả quá trình với nhiều hoạt động khác nhau”.
Điều này sẽ giúp người học chủ động tìm tòi, đào sâu thêm những kiến thức mà thầy cô truyền đạt và không ngừng cố gắng [16]. Trong một nghiên cứu khác của tác giả Thiều Thị Hường, vai trò của cố vấn học tập đã được nhắc tới như một yếu tố quyết định đối với hiệu quả học tập của sinh viên nói chung và đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất. Cụ thể, các sinh viên đều đánh giá vai trò của cố vấn học tập là rất quan trọng và quan trọng (51. Như vậy, 100% sinh viên đều đã nhận thức được tầm quan trọng của các cố vấn học tập trong đào tạo theo học chế tín chỉ.
Tỷ lệ cũng khá cao đến từ những đánh giá của bản thân những người cố vấn học tập.2% cố vấn học tập cho rằng, họ có vai trò “Quan trọng” và 23.8% cố vấn học tập khẳng định, họ có vai trò “Rất quan trọng” trong việc nâng cao kết quả học tập cho sinh viên [10]. Các cố vấn học tập đã làm gì giúp sinh viên rèn luyện và học tập? Nhiều biện pháp đã được cố vấn học tập sử dụng: từ “Tổ chức các buổi giao lưu, gặp mặt để trao đổi kinh nghiệm học tập giữa các lớp trong khoa”, cố vấn học tập cũng “thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với các giảng viên bộ môn” hay “Quan tâm, giúp đỡ sinh viên yếu, kém”. Tuy vậy, tần suất sử dụng các biện pháp này còn chưa thường xuyên. Nghiên cứu cũng chỉ ra biện pháp được xem là quan trọng và có vai trò quyết định đối với việc nâng cao kết quả học tập của sinh viên là “Giúp sinh viên lựa chọn phương pháp và cách thức học tập phù hợp” nhưng lại chưa được cố vấn học tập coi trọng [10].
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động học tập và rèn luyện trong trường học là mối quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa sinh viên và cố vấn học tập. Vì vậy, bên cạnh việc đánh giá hoạt động của cố vấn học tập, ý kiến của sinh viên cũng cần được xem xét nghiêm túc. Khi tìm hiểu thái độ của sinh viên đối với các hoạt động cố vấn học tập đã tổ chức, có 59.5% sinh viên họ tích cực, nhiệt tình tham gia; tinh thần hợp tác, đoàn kết của sinh viên được nâng cao và sinh viên có động cơ, thái độ học tập tích cực (51. Song vẫn còn 11% sinh viên thừa nhận “Đa số sinh viên không hứng thú với các hoạt động do cố vấn học tập tổ chức” và 10% sinh viên khẳng định, kết quả học tập của họ chưa được nâng cao.2%) cố vấn học tập thừa nhận, chưa đạt kết quả như mong muốn.