Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về NSNN cấp huyện Ngày 15/5/1978, với chủ trương xây dựng huyện thành một cấp có cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công nông nghiệp phát triển toàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 108/CP xác định quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp huyện. Ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị quyết số 138/HĐBT về cải tiến phân cấp ngân sách địa phương, nói rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của ngân sách nhà nước cấp huyện. Sau Đại hội Đảng lần thứ IV, nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN.
Cùng với chủ trương đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách Nhà nước cấp huyện cũng đã được xác định lại vai trò, nhiệm vụ của mình. Cụ thể, ngày 27/11/1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết số 186/HĐBT về phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có ngân sách cấp huyện. Ngày 16/02/1992, Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị quyết số 183/HĐBT sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989. Đến kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa IX khẳng định: Huyện là một cấp chính quyền có ngân sách, ngân sách cấp huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa phương thuộc hệ thống ngân sách Nhà nước.
Như vậy, ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngân sách Nhà nước trên phạm vi địa bàn huyện, gắn với thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện. Điều đó cho thấy ngân sách Nhà nước cấp huyện từ một cấp dự toán đã trở thành một cấp ngân sách có nguồn thu và nhiệm vụ chi riêng. Theo đó 5 ngân sách NN cấp huyện vừa có thể giúp ngân sách tỉnh, ngân sách TW giảm được khối lượng công việc, vừa có thể giúp ngân sách cấp trên nắm bắt được tình hình kinh tế nói chung và tình hình tài chính nói riêng của địa phương. Ngân sách cấp huyện do cơ quan cấp huyện tổ chức thực hiện quản lý thu chi theo quy định phân cấp của tỉnh nhằm khai thác tốt nguồn thu để đảm bảo nhiệm vụ chi ngân sách cấp mình.1 Khái niệm và đặc điểm chi NSNN cấp huyện * Khái niệm: Chi ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của nhà nước trong từng công việc cụ thể.
Chi Ngân sách nhà nước có quy mô và phạm vi rộng lớn, gồm nhiều lĩnh vực, tại các địa phương và các cơ quan, đơn vị nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm. Nó bao gồm: Các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước; Chi trả nợ của Nhà nước; Chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. * Đặc điểm và vai trò chi ngân sách Nhà nước: - Đặc điểm: + Chi ngân sách nhà nước thể hiện các quan hệ tài chính - tiền tệ được hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước.
+ Chi ngân sách nhà nước là sự kết hợp hài hòa giữa quá trình phân phối quỹ ngân sách nhà nước để hình thành các quỹ tài chính của các cơ quan, 6 đơn vị và quá trình sử dụng các quỹ tài chính này. Tức là quá trình sử dụng các khoản kinh phí được cấp phát từ quỹ ngân sách nhà nước. + Chi ngân sách nhà nước là các khoản cấp phát, thanh toán từ quỹ ngân sách nhà nước cho các cơ quan, đơn vị và cá nhân có tính không hoàn lại. Quy mô của chi ngân sách nhà nước phụ thuộc vào quy mô các khoản thu của ngân sách nhà nước và những nhiệm vụ chi mà Nhà nước cần phải thực hiện.
+ Chi ngân sách Nhà nước gắn chặt với bộ máy quản lý Nhà nước và việc triển khai thực hiện những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Quy mô chi ngân sách nhà nước do quy mô của nền kinh tế và bộ máy tổ chức của Nhà nước quyết định. Cơ cấu chi ngân sách nhà nước của các quốc gia và trong từng giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau. Điều này nói lên tính đa dạng, phong phú và phức tạp của chi ngân sách nhà nước, cũng như công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong tiến trình phát triển.
+ Các khoản chi ngân sách Nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác, như: Tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ. - Vai trò: + Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Để duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước, ngân sách Nhà nước chính là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và đảm bảo an ninh Quốc gia. Sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước làm thay đổi căn bản vai trò của ngân sách Nhà nước.
Nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho ngân sách Nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội được thực hiện chủ yếu thông qua công cụ ngân sách. 7 + Chi phối hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân. Ngân sách Nhà nước (với bộ phận tài chính công là chủ yếu) giữ vai trò chủ đạo gắn liền với vai trò lãnh đạo, điều hành của Nhà nước. Ngân sách Nhà nước chi cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để duy trì sự phát triển ổn định của các khu vực kinh tế.
Ngân sách Nhà nước tác động lớn đến ổn định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự, đảm bảo củng cố, tăng cường quốc phòng an và ninh của đất nước. Ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng được thể hiện với phạm vi rất rộng lớn ở cả thu và chi ngân sách. Chi ngân sách Nhà nước là phân phối lại, điều chỉnh, phân phối thu nhập, nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Ở đây Nhà nước đóng vai trò trung tâm phân phối lại, đồng thời Nhà nước cũng là người thay mặt xã hội thực hiện nghĩa vụ cơ bản đối với các đối tượng chính sách trong xã hội, đảm bảo công tác an sinh xã hội.
Ngân sách Nhà nước là công cụ định hướng, hình thành cơ cấu nền kinh tế mới; là đòn bẩy kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền; nhằm thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững; vững vàng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Để phát huy vai trò quan trọng của ngân sách nhà nước, trước hết, Chính phủ định hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, kinh tế mũi nhọn, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nước cung cấp nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt của nền kinh tế đất nước, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền, giữ cho thị trường khỏi 8 rơi vào tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và để điều tiết nền kinh tế của đất nước.
Trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu, hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. - Giải quyết các vấn đề xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, một vấn đề nổi lên rất rõ nét là hoạt động của ngân sách Nhà nước đã chuyển biến một cách căn bản và toàn diện; từ chỗ chủ yếu với những khu vực kinh tế Nhà nước và các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy Nhà nước.
Nay Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng mang tính chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất, thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia, phát hành trái phiếu và chi tiêu của Chính phủ. Chi ngân sách Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế của đất nước. Nó tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội, thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.
Chi ngân sách Nhà nước là cân đối tài chính tiền tệ, nó đóng vai trò quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nền kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội và điều hành nền kinh tế vĩ mô. Chi ngân sách Nhà nước đảm bảo hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Phân loại chi ngân sách Nhà nước Phân loại các khoản chi ngân sách nhà nước là việc sắp xếp các khoản chi theo những tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi, theo từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể như: 9 - Theo tính chất các khoản chi: Chi ngân sách nhà nước được chia thành chi cho y tế; giáo dục, phúc lợi; chi quản lý nhà nước, chi đầu tư, chi sự nghiệp kinh tế.