phần mở đầu, kết kuận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động BD về tư vấn nghề nghiệp cho GV theo hướng tiếp cận năng lực tại trung tâm GDNN - GDTX. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động BD về tư vấn nghề nghiệp cho GV theo hướng tiếp cận năng lực tại trung tâm GDNN - GDTX huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động BD về tư vấn nghề nghiệp cho GV theo hướng tiếp cận năng lực tại trung tâm GDNN - GDTX huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG VỀ TƢ VẤN NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN THEO HƢỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu ngoài nước Xu thế phát triển GD-ĐT đã đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ GV và các nhà QLGD, vì chính họ là nhân tố quan trọng đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục. Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1996) đã khẳng định: Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV về cả số lượng và chất lượng.
Từ đó cho thấy hoạt động BDGV rất được chú trọng và phổ biến ở nhiều quốc gia. Ở Anh, BDGV được tiến hành đào tạo lại cho GV theo những chương trình rất đa dạng trong 3 tháng với nội dung bồi dưỡng chủ yếu là xu hướng hiện đại của chương trình tiểu học, trung học, vận dụng các phương pháp tích cực trong giáo dục. Ngoài ra, các trung tâm GV còn tổ chức những cuộc họp, buổi chiếu phim…, giúp GV giải quyết những vấn đề riêng của mình Dẫn theo Trịnh Nguyên Giao, 15. Ở Pháp, BDGV cho mỗi GV có ít nhất 35 giờ đối với công tác đào tạo tiếp tục hàng năm.
Tăng cường làm việc theo nhóm để chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau. Thời gian làm việc của GV giảm từ 18 giờ xuống 15 giờ/tuần, thạc sĩ giảm từ 15 giờ xuống 14 giờ/tuần. Nhưng GV phải có 4 giờ/tuần có mặt tại trường để nghiên cứu tài liệu chuẩn bị các hoạt động giảng dạy, đối với thạc sĩ là 3 giờ/tuần tức là 132 giờ/năm. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ QLGD được chú trọng Dẫn theo Trần Bá Hoành, 20.
Tại Nhật Bản, BDGV có quy chế bắt buộc bồi dưỡng hàng năm đối với 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng Dẫn theo Mạc Thị Việt Hà, 17. Ở Hàn Quốc, hoạt động BDGV là bắt buộc. Mỗi chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 182 giờ.
Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng. Chương trình cũng được phân loại cho phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: Bồi dưỡng về soạn thảo chương trình giảng dạy; Đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; Bồi dưỡng chung; Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm… Những người thực hiện chương trình này sẽ quyết định nội dung và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng thường chú ý đến những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến và phổ biến trên thế giới Dẫn theo Mạc Thị Việt Hà, 16. Tại Thái Lan, từ năm 1998, hoạt động BDGV được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội Dẫn theo Trần Bá Hoành, 20.
Ở Philippin đã xây dựng kế hoạch tổng thể đào tạo BDGV 10 năm (1998-2008), trong đó có những giải pháp đáng chú ý. Chẳng hạn, thu hút những học sinh trung học có học lực khá giỏi vào ngành sư phạm. Tạo việc làm cho GV mới ra trường, giảm bớt tình trạng thất nghiệp đối với GV mới. Thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của GV trong xã hội Dẫn theo Trần Bá Hoành, 20.
Những nghiên cứu trong nước Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống “Tôn sư trọng đạo”. Từ xa xưa, người dân đã ý thức rằng “Nên thợ nên thầy vì có học”. Do đó, trong lịch sử phát triển của xã hội, vai trò của người thầy được ghi nhận như một công đức. Sự phát triển giáo dục đã làm nảy sinh ở GV nhu cầu được học tập, bồi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưỡng, được liên kết với nhau để cống hiến và họ đã ý thức sâu sắc rằng muốn cống hiến được nhiều hơn nữa thì phải tích lũy tri thức ngày càng nhiều; muốn tích lũy tri thức thì mỗi cá nhân phải thường xuyên được bồi dưỡng và học tập suốt đời.
Vấn đề bồi dưỡng có mầm móng từ khi con người có nhu cầu nâng cao sự hiểu biết và tích lũy kiến thức. Đến thời đại Hồ Chí Minh, vấn đề bồi dưỡng được nâng lên tầm cao mới. Trong quan điểm hệ thống của Người về cách mạng, quan điểm đề cao vai trò của bồi dưỡng luôn được chú trọng. Người dạy rằng: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”.
Quan điểm này thấm sâu vào sự nghiệp “trồng người” ở nước ta. Bởi vậy, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Người đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chỉ đạo xây dựng đội ngũ GV phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Trong đó, Người rất coi trọng vấn đề bồi dưỡng và đề cao vai trò tự bồi dưỡng. Người dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” 19.
Quan điểm của Người, huấn luyện là bồi dưỡng. Trong giáo dục, nếu không chăm lo BDGV thì không thể đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về “trồng người” là nền tảng lý luận vững chắc cho sự phát triển giáo dục trong đó có hoạt động BDGV. Trước năm 1976, vấn đề BDGV và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để làm rõ nội hàm BDGV chưa được nghiên cứu thường xuyên, tập trung, có hệ thống để phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà.
Từ năm 1991 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục với những góc độ, cấp độ khác nhau. Nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động BDGV đã được nhiều tác giả đề cập đến dưới dạng các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, các luận văn thạc sĩ, các bài viết … Tác giả Trần Bá Hoành, với bài viết “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa” 21, đã đưa ra một số biện pháp quản lý BDGV. Tác giả Bùi Thị Loan (2007), trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV trung học phổ thông hiện nay” 26, đã đề cập đến thực trạng chất lượng và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện của công tác đào tạo bồi dưỡng GV hiện nay. Đề xuất các giải pháp là cần quan tâm bồi dưỡng đội ngũ CBQL trường THPT về năng lực đánh giá, phân loại GV, trong đó chú ý nhiều đến kỹ năng phân loại năng lực GV, kỹ năng tác động đến GV, kỹ năng huy động các nguồn lực từ phía GV.
Cần bồi dưỡng cho hiệu trưởng năng lực thiết kế nội dung, xây dựng chương trình bồi dưỡng GV, huấn luyện cho GV năng lực nhận biết, hiểu đối tượng giáo dục và kỹ năng cơ bản sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý chuyên môn. Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết được đăng tải trên báo Giáo dục và thời đại, tạp chí nghiên cứu giáo dục (nay là tạp chí Giáo dục), tạp chí Thông tin khoa học giáo dục (nay là tạp chí Khoa học giáo dục) và các hội thảo khoa học bàn về các vấn đề tổ chức hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Những công trình nghiên cứu khoa học được ứng dụng tích cực trong các cơ sở giáo dục. Có thể kể đến bài báo của các tác giả: Một số giải pháp bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới nền giáo dục của Nguyễn Đức Vũ.
Kỉ yếu hội thảo kỉ niệm 60 năm ngành sư phạm Việt Nam- Bộ GD&ĐT- Hà nội 10/2006; Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THPT miền núi của Nguyễn Tiến Phúc (Tạp chí Giáo dục số 240, năm 2010); Chất lượng bồi dưỡng GV THPT – thực trạng và giải pháp của Phạm Thị Kim Anh (Kỷ yếu Hội thảo về nâng cao chất lượng bồi dưỡng GV THPT. Đại học sư phạm Huế 9/2009). Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết có giá trị khoa học, tuy nhiên chưa có công trình chuyên sâu về vấn đề quản lý hoạt động bồi về tư vấn nghề nghiệp cho giáo viên trung tâm GDNN – GDTX theo hướng tiếp cận năng lực và gắn với cơ sở giáo dục cụ thể. Một số khái niệm cơ bản 1.
Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Theo UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, GDTX là một khái niệm rộng bao gồm tất cả các cơ hội học tập cho mọi người có mong muốn và nhu cầu sau xóa mù chữ cơ bản hoặc giáo dục tiểu học. Theo quan niệm này, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GDTX bao gồm cả giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục phi chính quy cho những người lớn hoặc thanh niên cần và có nhu cầu sau khi biết chữ hoặc tương đương tiểu học, không bao gồm xóa mù chữ; GDTX và giáo dục không chính quy không đồng nhất với nhau. Ba bộ phận trên của GDTX không đứng riêng lẻ, tách rời nhau mà chúng xen kẽ, kế tiếp nhau trong suốt cuộc đời của mỗi người. GDTX không phải hoạt động xảy ra một lần rồi chấm dứt mà là một quá trình kéo dài suốt cả cuộc đời.
Ở Việt Nam, nhiều thuật ngữ đã được sử dụng như “Bình dân học vụ”, “Bổ túc văn hoá”, “Giáo dục bổ túc”, “Giáo dục phổ thông người lớn”, “Giáo dục thường xuyên“, “Giáo dục không chính quy” đã phản ánh được sự tiến triển trong quan niệm về GDTX ở Việt Nam và xu thế hòa nhập với các nước trong khu vực.